Má Huỳnh Thị Lòng
Đến thăm ngôi nhà người con duy nhất còn lại, chúng tôi mới cám cảnh được cái nghèo ngày xưa của gia đình má: một kiểu nhà nông bần cùng, ít ruộng, làm thuê và đói rách. Đó là gia cảnh của má Huỳnh Thị Lòng, người được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng của xã Tân An, bà mẹ có 3 người con trai đã hy sinh cho cách mạng. Nhìn vào những tấm bằng Tổ quốc ghi công của các liệt sĩ:Nguyễn Văn Chuyện, Nguyễn Văn Giảng, Nguyễn Văn Khá và những bằng Huân chương Chiến công giải phóng của các liệt sĩ được bày trí trong căn nhà gỗ bé đơn sơ mới thấy cái nghèo vẫn còn đeo đẳng con cháu của má cho đến tận bây giờ. Vậy mà ngày ấy má tần tảo cùng chồng làm thuê, làm mướn để có thể nuôi nổi một bầy con trai. Sinh năm 1892 tại vùng quê Tân Định, lớn lên má lấy chồng, một người cùng quê với má. Nhà chồng cũng nghèo, hai vợ chồng cùng cảnh ngộ nên dễ dàng thông cảm, chia sẻ nỗi khổ cực với nhau trên mảnh đất ít ỏi của ông bà để lại. Sáu lần sinh nở, còn lại 4 con trai, sống trong vùng giải phóng gia đình má vừa lo kiếm sống, vừa tham gia ủng hộ cách mạng. Má cùng với bà con sản xuất, góp lương thực, sinh hoạt các đoàn thể ở địa phương. Hồi giặc Tây còn, má thường giáo dục các con trai mình: “phải biết căm thù giặc, chúng là kẻ ngoại bang, không thể để chúng tung hoành, áp bức dân mình được”. Tự hào biết bao, những lời dạy dỗ của má đã có tác dụng mãnh liệt đối với đàn con của má, các con má đều nung nấu ý chí diệt thù. Ngày ngày, chứng kiến những cảnh bức hiếp, tàn sát dân lành của bọn Tây, má mơ ước một ngày nào đó quê má sẽ không còn giặc, đất nước sạch bóng quân thù, mọi người có được cuộc sống mới, gia đình ấm no và hạnh phúc. Thương thay, ước mơ của má chưa trở thành hiện thực thì má đã đột ngột qua đời. Cuộc sống tảo tần cơ cực đến bệnh hoạn đã cướp đi mạng sống ngắn ngủi của má khi má đang ở độ tuổi 48 (năm 1940). Sau khi má mất đi, các con má lần lượt tham gia cách mạng.Hai Chuyện (sinh năm 1925) và Ba Giảng (sinh năm 1928) đã tham gia phong trào Thanh niên Tiền phong ở địa phương. Năm 1945, các anh cùng với thanh niên vũ trang tham gia cướp chính quyền tại xã Tân Định, nhưng không may bị giặc Pháp càn bắt. Các anh bị đưa về giam tai bót Rạch Đông (Tân Định), bị chúng tra khảo suốt mấy tháng trời để truy lùng ra cơ sở tổ chức, nhưng điều tra không có kết quả, bọn Pháp đã đưa các anh ra xử tử. Hai Chuyện bị Pháp bắn chết tại bót Rạch Đông, mấy ngày sau, Ba Giảng cũng bị chúng đưa ra chặt đầu rất dã man cạnh lộ 24 (gần trường Tiểu học Tân An hiện nay) hòng trấn áp phong trào nổi dậy của quần chúng. Nghe tin hai con bị Tây bắt, ông Nguyễn Văn Sanh, chồng má, buồn ngả bệnh và chết vài ngày sau đó. Chỉ trong một năm (1945) mà gia đình má đã có tới 3 cái tang: chồng và 2 con trai. Gương hy sinh của Hai Chuyện và Ba Giảng đã có tác động mạnh mẽ đến tinh thần của Sáu Kha và Bảy Khá: hai em nuôi tham gia Cách mạng quyết trả thù cho các anh mình. Sáu Kha (sinh năm 1934) tham gia đội du kích của xã Tân Định từ năm 1952, Bảy Khá (sinh năm 1938) còn nhỏ làm giao liên cho Cách mạng. Kẻ thù lúc này không còn là giặc Pháp nữa mà là bọn đế quốc Mỹ và tay sai. Sau phong trào Đồng Khởi năm 1960, Sáu Kha và Bảy Khá thoát ly vào chiến khu học tập và ra công tác tại huyện nhà. Sáu Kha học tại trường hạ sĩ quan của R, về công tác tại đơn vị vũ trang công an bảovệ Trung ương Cục miền Nam. Còn Bảy Khá công tác tại tỉnh Biên Hòa (1960-1966). Đến năm 1966, Bảy Khá chuyển về Huyện đội Trảng Bom hoạt động đội vũ trang tuyên truyền, công tác di cư vận cho vùng đồng bào Công giáo di cư của huyện cùng với các đồng chí Tư Đầy, Tư Xương, Năm Triết (lúc đó là Bí thư Ban Cán sự huyện). Năm 1969, trên đường công tác vận động quần chúng tại xã Kiệm Tân (vùng giáp ranh Gia Tân và Gia Kiệm) đội công tác đã đối đầu với địch, hai bên đều nổ súng quyết liệt, trận này Bảy Khá đã hy sinh nhưng bảo vệ được an toàn cho đồng đội...Thế là 4 người con tham gia cách mạng đã lần lượt hy sinh hết 3 người, giờ chỉ còn Sáu Kha là người còn sống duy nhất của gia đình má. Các con má nhờ vào công lao sinh thành dưỡng dục của má đã thấu hiểu được chân lý của Cách mạng, con đường đi đúng hướng của các con cho dù có phải đổi bằng chính mạng sống của mình. Các con má đã sẵn sàng, bằng lòng, chấp nhận mọi nguy hiểm để tranh đấu miễn sao đất nước mình được độc lập, quê nghèo không còn cơ cực, áp bức. Hẳn dưới suối vàng má đã vui mừng, thỏa nguyện với chồng và các con anh hùng của má. Má xứng đáng với danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng mà Nhà nước đã truy tặng theo Quyết định số 438/KTCTN ngày 24/4/1995.



