Bài viết

“Má không sợ giặc, má chỉ thương các con thôi” - Lời đáp của má Bộ với các anh bộ đội

Má Nguyễn Thị Bộ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 438/KTCTN ngày 24/4/1995

Thanh Hóa29/10/2026Chi đoàn xóm Nghĩa Dụng (Đoàn xã Tân Kỳ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
“Má không sợ giặc, má chỉ thương các con thôi” - Lời đáp của má Bộ với các anh bộ đội
image.png

Nguyễn Thị Bộ (1918–?)

Má Nguyễn Thị Bộ sinh năm 1918, tại xã Cát Tài, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Lên tám, chín tuổi má lần lượt mồ côi cả mẹ lẫn cha. Cuộc đời của má bắt đầu đau thương, tối tăm từ đó. Không nơi nương tựa, má phải đi ở đợ chăn bò cho nhà giàu để kiếm miếng cơm, manh áo. Mỗi lần bò ăn không no, má bị chủ đánh đập thậm tệ, có khi đuổi ra khỏi nhà, bắt phải nhịn đói. Những lúc như thế, má chỉ biết chạy ra gò cát đầu làng nằm khóc bên mồ cha mẹ, thầm trách số phận mình sao mà bạc bẽo quá. Cảnh côi cút đau thương đó, má nhớ mãi suốt đời.

Năm lên 17 tuổi, má rời quê hương Bình Định vào Sài Gòn làm ăn kiếm sống. Má đi nhiều nơi, làm thuê cho nhiều chủ với nhiều công việc khác nhau. Nhưng cuộc đời làm thuê ở mướn đâu cũng vậy - vẫn bị hắt hủi, khinh dễ, đánh đập, chửi mắng, nhục nhã vô cùng!

Trong bước đường lưu lạc ở đất thành đô, má đã gặp ông Hoàng Văn Sửu, quê ở Hải Dương cũng vào đây làm thuê ở mướn. Cùng chung cảnh ngộ, hai người đã đem lòng thương cảm và đến năm 1941, họ đã kết nghĩa vợ chồng.

Trong suốt cuộc đời, má đã có tám lần sinh nở, nhưng chỉ nuôi được 5 người con: ba trai, hai gái. Vợ chồng má phải đầu tắt, mặt tối, một nắng hai sương mới nuôi nổi đàn con đến ngày khôn lớn.

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình được lập lại. Năm 1957, gia đình má về Gia Ray - Xuân Lộc làm ăn sinh sống. Sau phong trào Đồng Khởi năm 1960, phong trào cách mạng ở Xuân Lộc phát triển mạnh. Ông Hoàng Văn Sửu, chồng má tham gia hoạt động cơ sở bí mật ở xã. Ông đã cùng đội du kích mật lập được nhiều thành tích trong công tác diệt ác, phá kềm. Con trai lớn của má, anh Hoàng Văn Chôm, một mực xin má đi theo cha làm cách mạng. Má không ngăn cản nguyện vọng chính đáng của con mình, tháng 5/1965, má tiễn anh ra chiến khu, gia nhập bộ đội huyện. Người con gái kế, chị Hoàng Thị Hà cũng nằng nặc xin má theo anh đi kháng chiến. Thấy con gái còn bé quá, nên má khuyên: “Con ở nhà một thời gian, khi nào con đứng cao hơn khẩu súng trường (CKC) thì má cho đi”. Thời gian thấm thoắt trôi nhanh, đến cuối năm 1967, khi vừa tròn 17 tuổi, chị Hà được má cho phép thoát ly vào rừng. Cô gái duyên dáng, xinh đẹp của má được bổ sung vào đội nữ súng cối của huyện.

Gia đình má là cơ sở cách mạng chí cốt ở địa phương. Đối với má, ngoài 5 người con do má sinh ra, má còn có nhiều người con khác là những chiến sĩ giải phóng quân được má che giấu, nuôi dưỡng hàng ngày. Có lần địch tình nghi bắt má về đồn, đánh đập tra hỏi về tội “tiếp tế cho Cộng sản”, nhưng không khai thác được một chứng cứ gì, buộc phải thả má về. Anh em cán bộ bí mật về thăm, động viên má, má chỉ mỉm cười và tâm sự: “Má không sợ giặc, má chỉ thương các con thôi”.

Sau tết Mậu Thân năm 1968, má được tin anh Hoàng Văn Chôm, con trai má đã hy sinh khi trung đội anh tiến công đánh một cứ điểm địch. Má chết lịm người đi khi được tin xé ruột đó. Sống trong lòng địch, má đâu được khóc con mà chỉ nuốt nước mắt vào trong.

Sau đó 2 năm, vào mùa xuân năm 1970, má lại được tin chị Hà, con gái má hy sinh. Cô ngã xuống khi cô vừa tròn 20 tuổi. Nỗi đau xé lòng ập vào người má. Hai khúc ruột của má bị đứt làm sao mà không đau khổ được? Chồng má, ông Hoàng Văn Sửu, khi được tin con hy sinh, đôi mắt bác đỏ hoe, môi ông mím chặt, không nói một lời nào. Ông nén thương đau, lao vào công tác để trả thù cho con. Tháng 11/1974, khi ông đưa báo cáo đến hộp thư mật không may bị địch phục kích và hy sinh sau khi đã kịp thủ tiêu tài liệu.

Bọn lính kéo xác ông ra lề đường và tiếp tục tổ chức phục kích để đón đồng đội của bác đến lấy tài liệu. Mặc dầu được tin chồng hy sinh, má nuốt hận vào lòng, tìm cách báo cáo anh em cán bộ biết để phòng tránh, đồng thời đấu tranh đưa xác chồng về nhà chôn cất.

Như vậy, người chồng và hai người con thân yêu của má đã ngã xuống vì độc lập tự do cho Tổ quốc.

Má được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 438/KTCTN ngày 24/4/1995. Những năm cuối đời, má theo các cháu chuyển về sinh sống ở tỉnh Bình Thuận.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn