Cả cuộc đời má làm lụng vất vả cực nhọc nuôi con, chiến đấu gian khổ, hi sinh cũng chỉ vì hòa bình, độc lập, tự do... Thời kháng chiến chống Pháp, chồng và con trai lớn của má cùng tham gia chiến đấu. Rồi anh Lê Văn Dũng đã ngã xuống vào khoảng năm 1948-1949. Trong thời kháng chiến chống Mỹ lần lượt bốn người con của má thoát li vào rừng làm cách mạng. Anh Lê Văn Thanh đi du kích. Trong một lần đi công tác, anh trúng phục kích của địch, hi sinh để lại vợ và hai con thơ dại. Năm 1972 út Mười hi sinh ngay trên mảnh đất Long Tân vào cái tuổi 16. Vết thương lòng chưa kịp lành, nỗi buồn chưa kịp nguôi ngoai, má lại nhận được tin anh Lê Văn Tiến hi sinh ở Phú Hội. Tám Tiến ngã xuống trên đất quê ngoại khi tuổi đời vừa mới 25, để lại người mẹ già hơn 60 tuổi và vợ cùng con gái còn nhỏ. Cả đời của má tất tả với miếng cơm manh áo, gánh chịu biết bao sự âu lo của người mẹ trong thời chiến dưới mưa bom, đạn dội; sự mất mát dần những núm ruột dứt ra đã làm má khô cạn nước mắt. Ngày hòa bình, anh Lê Văn Phong, người con trai thứ sáu của má trở về. Cùng với vài người con trai, con gái còn sót lại sau cuộc chiến, má trở về mảnh đất cũ dựng tạm lại mái nhà để ở, có chỗ để đặt bàn thờ thờ chồng, thờ con... Má sống với con cháu được 3 năm sau ngày hòa bình rồi mất (năm 1978) ở tuổi 68. Ghi nhận những công lao to lớn của má trong sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc, má được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994. Má và gia đình được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba năm 2000.
|