Bài viết

MADAME BÌNH

Hưng Yên07/01/2026Trường THPT Mỹ Hào (Trường THPT Mỹ Hào)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

MADAME BÌNH

Tên thật: Nguyễn Thị Bình

Năm sinh: 1927

Quê quán / nơi sinh: Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp

Cuộc đời của bà

➔ Ngày vào Đảng CSVN: 10/1947, ngày chính thức: 10/5/1948

- Uỷ viên Trung ương Đảng khóa: V

- Đại biểu Quốc hội khóa: VI, VII, VIII, IX, X

Tóm tắt quá trình công tác - Từ 8/1945-01/1946: Tham gia vào phong trào quần chúng giànhchính quyền tại Sài Gòn. Bắt đầu kháng chiến, tham gia tiếp tế và chuyển vũ khí ra chiến khu cho Chi đội I Miền Đông

- Từ 02/1946-6/1947: Uỷ viên Ban Chấp hành Phụ nữ cứu quốc, hộ 5, Quận 3, Sài Gòn

- Chợ Lớn. - Từ 7/1947-6/1951: Thư ký, rồi Đoàn trưởng phụ nữ cứu quốc thành Sài Gòn, Bí thưĐảng đoàn Phụ nữ Sài Gòn

- Chợ Lớn. Tham gia mặt trận Liên- Việt, vận động thanh niên, trí thức.

- Từ 7/1951-12/1954: Bị địch bắt giam ở khám Chí Hòa, là Chi ủy viên Chi bộ nhà tù Chí Hòa; ra tù tiếp tục hoạt động trong phong trào hòa bình đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ 1954.

- Từ 01/1955-1957: Cán bộ của Hội liên hiệp Phụ nữ Trung ương.

- Từ 1957-1959: Học lý luận chính trị tại Trường Nguyễn Ái Quốc

- Từ 1959-1962: Trưởng ban Phúc lợi, Đảng đoàn phụ nữ Trung ương

- Từ 7/1962-12/1968: Ủy viên Trung ương phụ trách công tác đối ngoại Mặt trận Dân tộc giảiphóng miền Nam ViệtNam.

- Từ 01/1969-6/1976: Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Pari (1968-1973).

- Từ 7/1976-6/1987: Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Ủy viên TW Đảng khóa 5.

- Từ 7/1987-8/1992: Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng, kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Đốingoại của Quốc hội.

- Từ 9/1992-8/2002: Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam.

- Tháng 9/2002: Nghỉ hưu.

- Từ 2003 đến nay: Chủ tịch Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam.

Công trạng của bà

➔ 1) Trụ cột ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ Đại diện chính thức của Chính phủ Cáchmạng lâm thời (CMLT) tại các diễn đàn quốc tế, trực tiếp đối đầu ngoại giao với Hoa Kỳ vàchính quyền Sài Gòn. Tham gia và dẫn dắt đàm phán Hội nghị Paris (1968–1973) với phongthái điềm đạm, lập luận sắc sảo, kiên định lập trường độc lập – thống nhất – toàn vẹn lãnhthổ. Nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam, biến mặt trận ngoại giao thành một “mặt trậnchiến lược” song song với quân sự và chính trị trong nước.

➔ 2) Vai trò quyết định tại Hiệp định Paris 1973 Là một trong những người ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973) – văn kiện buộc Mỹ rút quân, chấm dứt dính líu quân sự trực tiếp ở Việt Nam. Bảo vệ thành công các điều khoản then chốt: tôn trọng độc lập, chủ quyền; chấm dứt bắn phá; trao trả tù binh; mở đường cho hòa bình và thống nhất. Biểu tượng ngoại giao hòabình: hình ảnh bà ký hiệp định trở thành biểu trưng toàn cầu của cuộc đấu tranh chínhnghĩa của Việt Nam.

➔ 3) Người kết nối phong trào hòa bình thế giới Vận động rộng rãi dư luận quốc tế, đặc biệt làphong trào phản chiến ở Mỹ, châu Âu và các nước không liên kết. Tạo sức ép ngoại giao – dư luận lên chính phủ Mỹ, góp phần thay đổi cục diện đàm phán theo hướng có lợi cho Việt Nam. Góp phần xây dựng mạng lưới ủng hộ Việt Nam từ các tổ chức hòa bình, trí thức, chính khách tiến bộ.

➔ 4) Đóng góp lớn trong xây dựng Nhà nước sau 1975 Sau thống nhất, tiếp tục đảm nhiệm PhóChủ tịch nước (1992–2002). Thúc đẩy đối ngoại hòa bình, hợp tác, góp phần bình thườnghóa và mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam thời kỳ đổi mới. Tham gia xây dựng chính sách xã hội, đặc biệt quan tâm giáo dục, bình đẳng giới, quyền trẻ em.

➔ 5) Di sản tinh thần và biểu tượng lịch sử Hình mẫu nhà ngoại giao nữ bản lĩnh, trí tuệ, nhân văn; được bạn bè quốc tế kính trọng.

Những câu nói nổi tiếng

“Chúng tôi chỉ có một mục tiêu: hòa bình thật sự cho Việt Nam.”
→ Câu nói thể hiện lập trường kiên định của phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị Paris.

“Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhưng không bao giờ chấp nhận một nền hòabình giả tạo.”
→ Khẳng định quyết tâm đấu tranh đến cùng vì độc lập, chủ quyền dân tộc.

“Không có sức mạnh nào lớn hơn sức mạnh của một dân tộc đoàn kết vì độc lập và tựdo.”
→ Thể hiện niềm tin sâu sắc của bà vào nhân dân Việt Nam.

“Ngoại giao không chỉ là lý lẽ, mà còn là lương tri.”
→ Quan điểm ngoại giao tiến bộ, nhân văn, rất đặc trưng của Madam Bình.

“Chiến tranh không mang lại vinh quang, chỉ để lại đau thương.”
→ Thông điệp mạnh mẽ về hòa bình, được bạn bè quốc tế đồng tình và trân trọng.

“Phụ nữ Việt Nam không chỉ biết chịu đựng, mà còn biết đứng lên đấu tranh cho tương lai của dân tộc.”
→ Tôn vinh vai trò và bản lĩnh của phụ nữ Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn