MÂM CƠM ĐẠM BẠC VÀ BỨC TƯỜNG SỐNG TỪ TÌNH QUÂN DÂN
bức tranh về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại vùng căn cứ miền Tây lại hiện lên từ một góc nhìn vô cùng đặc biệt – góc nhìn của tình đoàn kết keo sơn giữa bộ đội Cụ Hồ và đồng bào các dân tộc vùng cao.
MÂM CƠM ĐẠM BẠC VÀ BỨC TƯỜNG SỐNG TỪ TÌNH QUÂN DÂN
Chiều buông xuống trên những triền đồi xã miền núi, ánh nắng vàng nhạt hắt qua hiên ngôi nhà sàn của ông Võ Văn Hùng, kéo theo một bầu không khí ấm cúng, thân thuộc như chính những người ruột thịt trong gia đình. Đứng trước hiên nhà, điều đầu tiên đập vào mắt tôi không phải là những tấm huân chương hay bằng khen được treo trang trọng trên vách tường, mà là sự nồng hậu, chân tình phát ra từ nụ cười rạng rỡ của một cựu chiến binh từng gắn bó máu thịt với đồng bào các dân tộc thiểu số. Mang trên ngực chiếc huy hiệu đoàn viên sờn vai, tôi bước qua bậc cửa với một tâm thế hoàn toàn mới: đến để lắng nghe nhịp đập của tình nghĩa quân dân trong những năm tháng kháng chiến gian khổ nhất.
Qua lời kể chậm rãi, đầm ấm của ông Hùng, bức tranh về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại vùng căn cứ miền Tây lại hiện lên từ một góc nhìn vô cùng đặc biệt – góc nhìn của tình đoàn kết keo sơn giữa bộ đội Cụ Hồ và đồng bào các dân tộc vùng cao. Trong bối cảnh lịch sử khốc liệt của chiến trường miền núi Phú Yên, khi kẻ thù liên tục mở các cuộc càn quét đẫm máu hòng bóp nghẹt căn cứ cách mạng, cắt đứt mọi nguồn cung cấp lương thực và hậu cần, đời sống của lực lượng vũ trang gặp muôn vàn khó khăn, thử thách. Trong hoàn cảnh thiếu thốn đến tận cùng ấy, khi cái đói, cơn khát và bệnh tật vây hãm từng ngày, chính đồng bào các dân tộc thiểu số địa phương đã trở thành chỗ dựa sinh tử của lực lượng kháng chiến.
Ông Hùng xúc động nhớ mãi hình ảnh những người dân buôn làng không quản ngại bom đạn hiểm nguy, sẵn sàng bẻ từng bắp ngô, gùi từng hạt gạo vượt qua những cánh rừng rậm rạp để nuôi bộ đội. Giữa vòng vây kìm kẹp của giặc, sự che chở, đùm bọc hy sinh thầm lặng của nhân dân bản địa chính là chiếc khiên vững chắc nhất bảo vệ cách mạng, giúp bộ đội ta bám trụ và đánh giặc suốt những năm tháng dài đằng đẵng. Không có sự đùm bọc ấy, những người lính như ông khó lòng vượt qua được những năm tháng đứt bữa, thiếu thuốc men giữa đại ngàn.
Hòa bình lập lại, những vết thương chiến tranh mang trên cơ thể ông Hùng, dù đôi khi vẫn nhức nhối theo thời gian, dường như được xoa dịu phần nào bởi tình cảm làng xóm ấm áp và gia đình thuận hòa hôm nay. Thế nhưng, đằng sau sự bình yên ấy là cả một chuỗi những hy sinh thầm lặng của hậu phương. Trong những năm tháng ông chiến đấu ở chiến trường xa, người thân ở nhà phải gánh chịu biết bao nhọc nhằn, lo toan, vừa oằn mình chống chọi với bom đạn, đói nghèo, vừa tần tảo chăm sóc con cái. Đến khi chiến tranh kết thúc, gánh nặng mưu sinh và việc chăm sóc một người lính mang trên mình thương tật tiếp tục đè nặng lên đôi vai của những người thân yêu. Sự hy sinh ấy không có tiếng súng, không có huân chương ghi danh trên ngực áo, nhưng lại là điểm tựa kiên cố nhất giúp người lính vượt qua mọi đớn đau thể xác để tiếp tục sống có ích cho đời.
Ngồi nhìn cách ông Hùng đối xử với xóm giềng, cách gia đình quây quần ấm cúng bên mâm cơm đạm bạc và cách ông nhìn những đứa trẻ trong buôn với ánh mắt trìu mến, tôi nhận ra bài học vô cùng lớn lao về sức mạnh của sự đoàn kết và tình cảm gia đình. Lịch sử giữ nước không chỉ được viết bằng những chiến công hiển hách trên chiến trường, mà còn được bồi đắp từ nghĩa tình sâu nặng, từ sự gắn kết keo sơn giữa con người với con người trong những năm tháng hoạn nạn nhất. Rời ngôi nhà nhỏ khi màn đêm buông xuống, ánh điện từ những nếp nhà sàn bắt đầu hắt hiu sáng rực, tôi mang theo một khoảng lặng suy ngẫm sâu sắc về lòng biết ơn, tự nhắc nhở bản thân phải biết trân trọng tình cảm gia đình, vun đắp tình làng nghĩa xóm và sống có trách nhiệm hơn với những người đã hy sinh thầm lặng cho quê hương.



