NHỮNG MÙA ĐÔNG KHÔNG CHĂN ẤM VÀ KỶ LUẬT THÉP DƯỚI RỪNG GIÀ MIỀN TÂY
chiến tranh tại vùng căn cứ này không chỉ có tiếng súng gầm rú hay những trận càn quét đẫm máu hòng nhổ cỏ tận gốc căn cứ cách mạng, mà còn là cuộc chiến sinh tồn đơn độc giữa đại ngàn hoang vu.
NHỮNG MÙA ĐÔNG KHÔNG CHĂN ẤM VÀ KỶ LUẬT THÉP DƯỚI RỪNG GIÀ MIỀN TÂY
Tháng Ba, cái nắng gắt gỏng của vùng cao miền Tây Phú Yên như đổ lửa xuống từng triền đồi, làm rát bỏng cả da thịt. Khi tôi dắt xe ngược con dốc cao gập ghềnh, men theo con đường mòn phủ đầy bụi đỏ để tìm đến ngôi nhà của ông Phạm Văn Hiên, điều đầu tiên đập vào mắt tôi không phải là sự tĩnh lặng của núi rừng, mà là cái cách mà không gian nơi đây dường như vẫn còn giữ lại hơi thở của một thời kỳ đầy bão tố. Mang trên ngực chiếc huy hiệu đoàn viên sờn vai, tôi đứng trước hiên nhà sàn nhỏ, tự hỏi không biết những người lính trẻ ngày ấy đã làm thế nào để vượt qua những năm tháng mà sự sinh tồn bị đẩy đến lằn ranh mỏng manh nhất.
Ông Phạm Văn Hiên đón tôi bằng một cái bắt tay chắc nịch và ánh mắt sắc sảo nhìn xa xăm. Dù thời gian đã mài mòn đi sức trẻ, những vết thương chiến trận vẫn âm ỉ hành hạ cơ thể mỗi khi thời tiết chuyển mùa, nhưng ở người cựu chiến binh ấy vẫn toát lên một khí chất kiêu hãnh đặc trưng của người lính Cụ Hồ. Khi tôi ngỏ ý muốn nghe về những năm tháng kháng chiến, ông không kể những câu chuyện đao to búa lớn. Ông đưa tôi trở về quá khứ bằng chính sự khắc nghiệt tột cùng của chiến trường miền Tây – nơi thiên nhiên và kẻ thù cùng lúc giăng ra những cạm bẫy chết người.
Trong ký ức của ông Hiên, chiến tranh tại vùng căn cứ này không chỉ có tiếng súng gầm rú hay những trận càn quét đẫm máu hòng nhổ cỏ tận gốc căn cứ cách mạng, mà còn là cuộc chiến sinh tồn đơn độc giữa đại ngàn hoang vu. Ông kể về những mùa mưa lũ cuồn cuộn, khi nước từ thượng nguồn đổ về xiết chảy qua các khe suối, cuốn phăng mọi thứ và cô lập hoàn toàn các tuyến giao liên. Những người lính phải ngâm mình trong nước lạnh cắt da, vượt suối dữ dưới làn đạn pháo. Ngược lại, mùa khô đến thì hạn hán kéo dài, từng ngụm nước suối đục ngầu phải chắt chiu từng giọt. Thế nhưng, điều ám ảnh nhất là cái lạnh buốt giá của những đêm sương muối mùa đông. Giữa đại ngàn hoang vu, khi trong tay tuyệt nhiên không có lấy một chiếc chăn ấm đủ che thân, anh em chiến sĩ phải ôm nhau truyền hơi ấm để qua đêm, chống chọi lại cái lạnh thấu xương thấu thịt.
Và khủng khiếp hơn cả thời tiết chính là những cơn sốt rét rừng quằn quại đi liền với thiếu thốn lương thực. Hạt gạo quý như vàng phải nhường cho thương binh, bữa ăn của những người lính du kích chỉ là củ mì lùi tro nóng hổi hay dăm nhánh rau rừng đắng ngắt. Thiếu thuốc men, những cơn sốt rét ác tính hoành hành làm xanh da xao thịt, vắt kiệt sức lực của biết bao người lính trẻ. Ông Hiên nhắc về những đồng đội ngã xuống giữa rừng sâu khi tên tuổi còn chưa kịp ghi vào trang sử sách, bằng một giọng trầm đục, nghẹn ngào nhưng đầy sự kiên định. Giữa hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, điều duy nhất giữ chân những người lính ở lại bám trụ chính là kỷ luật thép của quân đội cách mạng và tình quân dân keo sơn. Trong quân ngũ ngày ấy, kỷ luật là sinh mệnh; một tiếng động nhỏ hay sự lơ là có thể đánh đổi bằng sinh mạng của cả tiểu đội. Chính kỷ luật nghiêm minh ấy đã rèn giũa những con người bình thường trở thành những chiến sĩ kiên trung, bất khuất.
Ngồi nghe ông Hiên kể chuyện, nhìn những vết sẹo chi chít trên tay ông – những dấu tích chiến tranh được khắc trực tiếp lên da thịt – tôi cúi đầu suy ngẫm về thực tại của chính thế hệ mình. Chúng ta, những người trẻ lớn lên trong hòa bình, đôi khi được bao bọc trong những tiện nghi đủ đầy và dễ dàng nản lòng trước những áp lực nhỏ nhoi hay sự lỏng lẻo trong kỷ luật bản thân. Chúng ta quen với việc đòi hỏi sự thoải mái mà quên mất rằng để có được dáng ngồi điềm tĩnh và nền hòa bình hôm nay, thế hệ đi trước đã phải đánh đổi bằng cả tuổi trẻ, bằng những mùa đông không chăn ấm và bằng cả máu xương.
Rời khỏi ngôi nhà sàn của ông Phạm Văn Hiên khi màn đêm bắt đầu buông xuống, ánh điện từ những bản làng vùng cao hắt hiu sáng rực rỡ dưới bầu trời đầy sao, cái bắt tay siết chặt lúc chia tay của người lính già như truyền sang tôi một nguồn sức mạnh tinh thần to lớn. Lịch sử không chỉ nằm trên trang giấy; nó sống động trong từng vết sẹo và trong cả ý chí quật cường của những con người đi qua giông bão. Và tôi hiểu rằng, đáp án cho sự hy sinh ấy không phải là những lời hoài niệm suông, mà là lối sống có kỷ luật, có ý chí kiên định và tinh thần trách nhiệm của một người trẻ trước hiện tại và tương lai của quê hương.



