Mâm cơm đợi chờ dưới mái tranh Thanh Quýt

Những Chiếc Bát Không Người Ăn
Hoàng hôn rớt xuống xóm nhỏ Thanh Quýt (xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn) mang theo cái se lạnh của gió chiều. Trong căn nhà ngói cũ kỹ, ánh đèn dầu leo lét soi rõ bóng lưng còng rạp của một bà cụ. Mẹ Thứ lật đật bưng mâm cơm lên chiếc chõng tre. Mâm cơm chỉ có đĩa rau luộc và bát mắm cái nghèo nàn. Thế nhưng, điều khiến người ta nghẹn lòng là Mẹ lẩy bẩy xếp ra mép chõng tới chín chiếc bát tành, chín đôi đũa tre được so ngay ngắn. Mẹ hướng đôi mắt đục ngầu, mờ tỏ về phía cửa, cất giọng trầu móm mém, run run:
— "Thằng Chánh, thằng Trị, thằng Lớn... các con về ăn cơm với má..."
Chỉ có tiếng gió xạc xào qua rặng tre đáp lời. Không một ai bước vào. Đã hàng chục năm nay, bữa cơm nào Mẹ cũng dọn ra như thế, rồi lại lặng lẽ cất đi trong nước mắt.
Chín Lần Tiễn Con Đi, Chín Lần Khóc Thầm Tặng Nước
Người ta thường nói, giọt nước mắt chảy xuôi, nhưng với Mẹ Thứ, nước mắt đã chảy ngược vào tim cho đến khi cạn khô. Từ những ngày chống Pháp cho đến lúc đánh Mỹ, mảnh đất Quảng Nam chìm trong bom cày đạn xới. Mẹ Thứ đã tự tay khâu từng manh áo, gói từng nắm cơm lam tiễn các con ra trận. Lần lượt chín người con trai, một người con rể và hai đứa cháu ngoại của Mẹ đã xếp bút nghiên, rời luống cày để đi theo tiếng gọi của non sông. Khi tiễn đứa con út ra đi, Mẹ nắm lấy bàn tay sạm nắng của anh, nén tiếng thở dài: "Đi chân cứng đá mềm nghe con, đánh đuổi tụi nó rồi về ăn cơm má nấu". Nhưng chiến tranh là một cỗ máy nghiền nát những lời hứa. Lần lượt từng tờ giấy báo tử gửi về, lạnh ngắt và tàn nhẫn. Có những năm, Mẹ nhận được tin dữ của hai, ba người con cùng lúc. Nỗi đau giằng xé khúc ruột khiến Mẹ không thể gào khóc thành tiếng, chỉ biết ôm gối trong đêm, để mặc những tiếng nấc nghẹn ứ nơi lồng ngực. Mái tóc Mẹ bạc trắng màu tang thương, đôi mắt sâu hoắm mòn mỏi chờ đợi những bóng hình mãi mãi nằm lại ở tuổi mười tám, đôi mươi.
Hầm Bí Mật Giữa Vườn Nhà
Nỗi đau mất con không quật ngã được người mẹ Quảng Nam kiên cường. Biến đau thương thành hành động, Mẹ Thứ biến chính khu vườn nhà mình thành trận địa. Ngay dưới những nấm mồ gió của các con, Mẹ cho đào năm căn hầm bí mật. Ban ngày, Mẹ móm mém nhai trầu, chống gậy đi quanh vườn cảnh giới, bình thản đối mặt với những họng súng lăm lăm của địch lùng sục. Đêm xuống, Mẹ lại rón rén mang từng củ khoai, vắt cơm, giọt nước xuống hầm nuôi giấu hàng ngàn cán bộ, bộ đội và du kích. Mỗi lần nhìn những chiến sĩ trẻ tuổi trạc chừng các con mình, Mẹ lại rơm rớm nước mắt, ân cần như che chở cho chính núm ruột của mình:
"Các con của má không về, thì các con là con của má. Cứ ở đây, có chết má cũng bảo vệ các con."
Hòa bình lập lại, đất nước rợp cờ hoa. Những người lính năm xưa lục tục trở về, nhưng ngôi nhà của Mẹ Thứ thì mãi mãi trống vắng. Chín người con trai, con rể và các cháu của Mẹ đã hóa thành những vành hoa đỏ trên đài tưởng niệm.Những năm tháng cuối đời, người ta vẫn thấy một bà cụ già ngồi hiên nhà, mắt hướng về phía con đường mòn đầu xóm. Mẹ Thứ ngồi đó, kiên nhẫn và bao dung, như một ngọn núi đã gom hết mọi nỗi đau của đất nước vào lòng mình để nhường lại bình yên cho con cháu.



