Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

MẦM SỐNG DƯỚI LÒNG ĐẤT MẸ

“Niềm đau về nỗi mất mát của người mẹ mất con, người em mất chị và mầm sống chưa kịp chào đời của người Giao Liên đất Trí Phải năm 1973.”

An Giang06/04/2026Nguyễn Thị Cẩm Vân (Chi đoàn 12/8, Đoàn trường THPT Vĩnh Thuận, xã Vĩnh Phong)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lịch sử dân tộc không chỉ được viết bằng mực trên giấy trắng, mà được tạc bằng máu và nước mắt của những người con ưu tú trên mảnh đất hình chữ S. Đến với đề án “Câu chuyện thời hoa lửa”, tôi như được ngược dòng thời gian để tìm về những trang sử sống động tại ấp 4, xã Trí Phải, Thới Bình, Cà Mau. Nơi ấy có một câu chuyện về gia đình người giao liên Trần Thị Anh - Bà Dì Hai kính yêu của tôi. Đó không chỉ là hồi ức, mà là những thước phim đầy bi tráng về một gia đình yêu nước, về người phụ nữ đã hóa thân vào lòng đất mẹ khi mầm sống trong bụng còn chưa kịp chào đời. Qua lời kể của bà ngoại tôi, người trực tiếp chứng kiến nỗi đau xé lòng năm ấy, chúng ta mới thấu hiểu hết cái giá của độc lập, tự do.

Trong chiến tranh, gia đình không chỉ là tổ ấm, mà còn là một pháo đài cách mạng. Sự hy sinh của người phụ nữ mang trong mình mầm sống chưa kịp chào đời là nỗi đau tột cùng của nhân loại.

Bà Ngoại tôi kể rằng, những năm tháng ấy, Bà Ngoại cùng nhiều phụ nữ trong vùng tham gia Hội Phụ nữ, làm Giao Liên, băng rừng lội sình, mang tin tức đi trong đêm tối, dưới làn mưa bom, bão đạn. Nổi bật trong số đó là Bà Dì Hai - Trần Thị Anh của tôi. Giữa rừng tràm Trí Phải lúc bấy giờ, Bà Dì dựng trại làm nơi liên lạc, thông báo tình hình cho các trí thức nông dân yêu nước. Bà Dì vừa là người vợ, người mẹ của Thủy, vừa là người chiến sĩ giao liên kiên cường. Ngay cả khi đang mang trong mình một sinh linh bé bỏng, Bà Dì vẫn không rời bỏ trận địa, Bà mang theo cả sự sống trong bụng mình để bảo vệ sự sống lớn lao của cả dân tộc. Nhưng chiến tranh không chỉ thử thách lòng dũng cảm, nó còn tàn nhẫn đến mức xé nát mọi điều thiêng liêng nhất.

Sức mạnh kháng chiến nằm ở lòng dân, ở những bát cơm tiếp tế và gánh nước mát lành nhân dân miền Tây dành cho bộ đội. Nhưng cái giá của sự trung kiên ấy đôi khi là sự diệt vong của cả một gia đình dưới bàn tay của những kẻ phản động và chỉ điểm. Năm 1973, qua đôi mắt bàng hoàng của Bà Ngoại tôi, khi ấy bà chỉ mới 15 tuổi, một cuộc truy kích tàn khốc đã diễn ra. Tiếng bom dội, tiếng súng nổ, khói rơm nghi ngút đã cướp đi sinh mạng của hàng nghìn người dân vô tội tại xã Trí Phải này. Đau đớn thay, trong đó có cả gia đình Bà Trần Thị Anh. Bà Dì Hai, chồng bà, và cả Thủy - đứa trẻ còn chưa kịp lớn, đã nằm lại giữa đất rừng tràm. Đau đớn hơn, trong bụng Bà Dì tôi lúc ấy vẫn còn một sinh linh chưa kịp cất tiếng khóc chào đời. Một sự sống chưa kịp bắt đầu đã vĩnh viễn khép lại trong lòng đất lạnh lẽo.

Nhưng nỗi đau lại không dừng lại ở đó.

Bà Cố tôi - mẹ của bà dì Hai, người đã mất đi đứa con gái mà bà dứt ruột sinh ra. Người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh. Nỗi đau ấy không thể gọi thành tên. Bà Ngoại tôi kể lại rằng, sau hôm đó, bà cố gần như không còn khóc thành tiếng. Có những đêm, bà chỉ ngồi lặng trước hiên nhà, mắt nhìn vào khoảng không vô định, như vẫn chờ một bóng người sẽ trở về từ rừng tràm năm cũ. Không có tiếng gào thét, không có những lời oán trách, chỉ có sự im lặng kéo dài đến tận cuối đời. Có lẽ, nỗi đau lớn nhất không phải là cái chết, mà là sự mất đi mà không bao giờ có thể bù đắp. Là khi một người mẹ phải sống tiếp phần đời còn lại với khoảng trống không gì lấp nổi trong tim.

Và chính trong bóng tối của cái chết, ánh sáng của lòng dũng cảm sẽ soi đường cho sự sống. Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng, Ông Dượng Ba Nguyễn Văn Hoàng đã nêu cao danh hiệu “Xung phong”. Dù đơn độc, nhưng tiếng hô vang trời ấy đã khiến kẻ thù khiếp sợ mà tháo chạy vì tưởng dân ta đông đảo. Đó không chỉ là mưu trí, mà là sự quên mình: “Giây phút đó, ông chỉ nghĩ đến hàng chục con người đang chết ở đó chứ chẳng hề quan tâm đến bản thân mình”. Cũng nghe kể lại thông qua câu chuyện của Bà Ngoại của tôi là ông rất may mắn thay, nhờ nhiệm vụ đi mua rượu cứu tế trước đó, ông đã thoát khỏi cơn xoáy tử thần để hôm nay trở thành người giữ lửa ký ức. Ông sống sót không phải để quên đi, mà để nhớ. Để giữ lại ký ức cho những người đã nằm xuống.

Bằng lẽ đó, như một cơn bừng tỉnh giữa ác mộng, khiến tôi nhận ra rằng chỉ có hiểu về quá khứ mới là cách tốt nhất để trân trọng hiện tại và định hướng tương lai. Ánh mắt Bà Ngoại khi nhắc về người chị ruột của mình đã khuất khiến tôi nhận ra rằng: Hòa bình ngày nay được đổi bằng máu và nước mắt của bao thế hệ ngày trước. Những bia mộ tại ấp 4, xã Trí Phải, Cà Mau hiện nay không phải là những khối đá vô tri, mà là những linh hồn bất tử, vẫn sống mãi trong tim người dân cura nơi đây.

Là một người trẻ chuẩn bị bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tôi thấy mình phải có trách nhiệm viết tiếp trang sử dân tộc bằng sự học tập và cống hiến từng ngày của bản thân mình. Những bia mộ ở ấp 4, xã Trí Phải không phải là những khối đá vô tri, vô giác. Đó là những linh hồn bất diệt, là những trang sử sống, là lời nhắc nhở âm thầm nhưng day dứt rằng: hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả những giấc mơ còn dang dở. Và bản thân tôi hiểu rằng mình không thể viết tiếp lịch sử bằng máu như thế hệ đi trước. Nhưng tôi có thể viết tiếp bằng tri thức, bằng trách nhiệm, bằng sự tử tế và cống hiến mỗi ngày.

Câu chuyện khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn cháy mãi trong tôi. Những thước phim tôi ghi lại không chỉ là một bài dự thi, mà là lời tri ân, là nỗi nhớ, là sự tiếp nối. Là tiếng lòng của một người mẹ nhớ con, một người em nhớ chị, một người cháu kính trọng bà và một thế hệ không được phép lãng quên.

“Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.”

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta, mà hãy nhìn vào sự hy sinh của biết bao thế hệ đi trước, của những anh hùng tổ quốc đã chôn mình vào sâu lòng đất mẹ để hôm biết rằng:

“Ta phải sống thế nào cho xứng đáng với họ.?”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn