Mang dáng hình đất nước đến Hội nghị Paris

“Chúng tôi không chỉ đi theo cách mạng bằng trái tim của người yêu nước, mà còn bằng lý trí của người tin vào chân lý” là lời khẳng định của bà Nguyễn Thị Bình, người phụ nữ duy nhất ký tên vào bản hiệp định Paris lịch sử chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình cho Việt Nam. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà đã kiên định với lý tưởng cách mạng từ những ngày đầu tham gia kháng chiến. Người phụ nữ nhỏ bé nhưng mang trong mình khí phách và tầm vóc của cả thế hệ: Đoàn kết, bản lĩnh và đầy trí tuệ.
Ở tuổi 99, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình vẫn toát lên thần thái điềm tĩnh, minh triết với bản lĩnh thép, như trong những thước phim tư liệu khi bà đảm nhiệm vai trò Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam tại Hội nghị Paris (1968-1973). Khi đó, truyền thông phương tây ví khả năng đàm phán của bà như “khiêu vũ giữa bầy sói” và trân trọng gọi bà là Madame Bình.
Ánh sáng cách mạng giữa đêm đen đô thị
Trong căn phòng yên tĩnh, chúng tôi xin phép được ngồi cạnh bà để phỏng vấn. Mặc áo vest trắng ngà, môi tô son đỏ, ánh mắt kiên định, giọng ấm và vang, đôi bàn tay nồng ấm của bà đã nắm tay tôi trong suốt cuộc trò chuyện rất lâu, vừa trân trọng lại thật gần gũi. Với sự hỗ trợ của cô con dâu - nhà giáo Mai Thục Trinh (vì có lúc bà nghe không rõ), chúng tôi đã trò chuyện với Madame Bình về những dấu mốc không quên trong cuộc đời cách mạng của bà.Bà Nguyễn Thị Bình sinh năm 1927 tại Sa Đéc (cũ), nay là tỉnh Đồng Tháp, tên khai sinh là Nguyễn Thị Châu Sa, trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Mẹ bà là cụ Phan Thị Châu Lan - con gái của nhà yêu nước Phan Chu Trinh. Cha bà là cụ Nguyễn Đông Hợi, từng là viên chức trong ngành trắc địa, được điều qua Campuchia làm việc cho nên cả gia đình cũng chuyển đến sống tại thủ đô Phnôm Pênh.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Thời niên thiếu, bà theo học tại Trường Lycée Sisowath - ngôi trường trung học danh tiếng bậc nhất ở xứ sở Chùa tháp, giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Ngay từ khi còn nhỏ, cô bé Châu Sa đã thể hiện tư chất thông minh, học rất giỏi, nhất là môn Toán và cũng đã sớm bộc lộ tinh thần yêu nước, lòng tự trọng dân tộc mỗi khi tranh luận, thậm chí sẵn sàng ẩu đả với bạn học nếu nghe thấy họ nói xấu người giúp việc là “Annamite” (An Nam-mít, hàm ý kỳ thị, khinh miệt).
Năm 1945, cụ Hợi đưa gia đình trở về nước rồi vào chiến khu D tham gia kháng chiến; được phân công làm Trưởng ban Công binh Nam Bộ, đơn vị chuyên sản xuất vũ khí cho quân đội. Cha bận việc nước, mẹ lại mất khi Châu Sa mới 16 tuổi, là chị cả trong gia đình, cô gái nhỏ đã sớm thay cha mẹ chăm lo cho các em, gánh vác việc nhà. Chính những năm tháng sớm trưởng thành ấy đã gieo vào tâm hồn Châu Sa hạt giống của nghị lực, tinh thần tự lập và bản lĩnh kiên cường - tiền đề để hình thành nên một “bông hồng thép” của cách mạng Việt Nam sau này.
Tham gia các hoạt động yêu nước trong phong trào sinh viên, học sinh từ cuối những năm 1940 với bí danh là Yến Sa, đến năm 1948, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong vỏ bọc một giáo viên dạy Toán và tiếng Pháp với tên mới là Nguyễn Thị Xuân, bà đã có thời gian vừa dạy học ở Sài Gòn vừa hoạt động cách mạng. Khi tổ chức điều ra bắc, bà đổi tên thành Nguyễn Thị Bình (để giữ bí mật và thể hiện khát vọng hòa bình); được giao phụ trách công tác đối ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam Việt Nam, sau đó giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam và là Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris.



