Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Mật lệnh hướng Tây Nam: Hành trình xuyên túi nước Đồng Tháp Mười

Đoạn trích thuật lại bước ngoặt quan trọng của tác giả vào cuối năm 1967, khi được đồng chí Lê Đức Anh trực tiếp giao trọng trách giữ chức Tư lệnh phó Phân khu 3 (mặt trận Tây Nam Sài Gòn). Tâm điểm của câu chuyện là hành trình 6 đêm hành quân đầy gian khổ, "lặn lội" xuyên qua túi nước Đồng Tháp Mười để mang theo phong thư mật lệnh tối mật. Người đọc sẽ được trải nghiệm những giây phút nghẹt thở khi đoàn quân phải đối mặt với công nghệ hồng ngoại của máy bay Mỹ, những đàn muỗi vo vo và đỉa đói

Lai Châu25/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đầu tháng chạp năm Đinh Mùi, anh Lê Đức Anh lại có điện xuống, lệnh cho tôi phải về gấp Bộ chỉ huy Miền có việc cần. Linh cảm như báo trước phải tạm xa nhau, các anh chỉ huy phòng Đặc công tổ chức một cuộc liên hoan gọn nhẹ, tinh thần là chủ yếu, gọi là để đánh dấu buổi hợp tan. Tuy mới sống bên nhau chưa được bao lâu, nhưng khi phải chia tay thi giữa người ở lại và tôi - người ra đi, đều tỏ ra quyến luyến pha chút bùi ngùi.

Tôi đi trong không khí oi nồng của một cuộc hành quân mới được bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn cho bật đèn xanh thực hiện. Bầu trời, mặt đất Đông Nam Bộ đang rung lên bởi tiếng bom đạn và tiếng động cơ của máy bay các loại, tạo nên một âm thanh căng thẳng, nặng nề. Người phải trả giá cho thất bại sau hai cuộc phản công chiến lược mùa khô vừa qua là binh sĩ Mỹ và gia đình họ. Đối với tướng tá Mỹ ở cả Lầu năm góc chính quốc và Lầu năm góc phương Đông (chỉ Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn) thì đây là một canh bạc khát nước, cần phải gỡ. Thế là ngày đêm họ lao vào hoạch định một kế hoạch phản công mới một cách rất tự tin bởi số lính Mỹ từ chính quốc đưa sang chẳng những đủ bù số chết trận mà còn nâng tổng số lên đến nửa triệu (525.000 tên)1

Cuộc hành quân “Hòn đá vàng” nằm trong khuôn khổ giai đoạn đầu của cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ ba do sư đoàn 25 Mỹ đảm trách đánh vào vùng Cà Tum, chiến khu c đã bắt đầu ngày 18 tháng 12 năm 1967 là một ví dụ nữa về sự bị động trong chỉ đạo chiến lược của Nhà trắng và Lầu năm góc. Đế quốc Mỹ vẫn chưa phát hiện được ý đồ chiến lược của ta, chưa biết rằng bão lửa đang sắp dội xuống đầu chúng.

Tôi đang vừa đi vừa suy nghĩ thì trước mặt đã hiện ra nơi ở và làm việc của Bộ tư lệnh Miền.

Hình như có sự chờ sẵn, thoáng thấy tôi, anh Lê Đức Anh đã ra cửa:

- Vào nhà! - Anh siết chặt tay tôi - Khỏe không, quen đất miền Đông chưa?

- Dạ! Đã ạ.

- Cảm tưởng thế nào?

- Dạ!...

Tôi muốn báo cáo với anh về những ấn tượng đẹp đối với bạn bè đồng chí mà tôi đã gặp lại, về công tác mà tôi đã cùng các anh chỉ huy phòng Đặc công bàn bạc nhất trí, đang triển khai thực hiện, nhưng lúc này đây tôi muốn chờ đón mệnh lệnh anh giao, vi anh điện phải lên gấp mà! Anh chưa đi vào việc, cũng không thấy ở anh có biểu hiện gì là vội vã, khẩn trương.

- Tình hình rồi đây sẽ sáng sủa - Anh mở đầu - vì ta đang ở thời điểm có thể làm ăn lớn... Ta cố gắng thì địch cũng không ngồi yên, nhất là kẻ địch mà chúng ta phải đối đầu lại rất thực dụng, có tiềm lực kinh tế và quốc phòng. Vấn đề là ai vững vàng, kiên định.

Anh tin ở cấp dưới, tin ở tôi nhưng có lẽ anh vẫn cho rằng (điều này đúng) tôi mới vào chưa được thử thách thực tế, thì sự kiên định và vững vàng càng trở nên cần thiết. Không có ý chí mạnh, không có tư tưởng tiến công thì mọi tư duy quân sự khác sẽ vô nghĩa vì nó không có một nền tảng nào vững chắc để dựa cả.

Anh nói ngắn mà chứa nhiều hàm ý. Tôi vẫn chăm chú đón nhận những điều anh căn dặn, thì bổng giọng anh trầm xuống đi thẳng vào vấn đề:

- Bộ chỉ huy Miền đã thống nhất cử đồng chí xuống giữ chức tư lệnh phó Phân khu 3 - ngừng một lát, anh lệnh tiếp, ngắn gọn * Phải đi ngay bây giờ, không được chậm.

Anh lấy trong cặp một phong bì nhỏ có đóng dấu đỏ tối mật ở chính giữa và ở các mép dán, đưa tôi. Thái độ vừa tin cậy nhưng nghiêm khắc, anh nói rành rọt từng tiếng:

- Bộ chỉ huy Miền giao cho đồng chí cầm bản mệnh lệnh này - anh nhấn mạnh thêm - Phải giữ cẩn thận như vật bất ly thân xuống thẳng sở chỉ huy đưa tận tay cho anh Tư Thân (tức Huỳnh Công Thân) tư lệnh Phân khu và nhắc các anh dưới đó: đến giờ quy định mới được mở.

Vừa phấn khởi tự hào, vừa xúc động , hai tay tôi run run đón nhận phong thư mật lệnh với một ý thức rất rõ về trọng trách trên giao. Lời căn dặn của đồng chí tham mưu trưởng Miền: đến giờ quy định mới được mở, đã nhắc nhở, thúc giục mạnh mẽ tôi hăm hở lên đường.

Ngày 17 tháng chạp năm Đinh Mùi, từ nơi làm việc của anh Lê Đức Anh, tôi theo các đồng chí giao liên hướng dẫn xuống Phân khu 3 - còn gọi là mặt trận tây - nam Sài Gòn, gồm phần lớn địa bàn thuộc tỉnh Long An. Là đường hành lang chiến lược nối thông từ Trung ương cục với đồng bằng sông Cửu Long đến tận miệt rừng U Minh thấu tới Cà Mau - Năm Căn, vì thế mà Bộ tư lệnh quân đội Mỹ ở Sài Gòn đã có cả âm mưu “bóp nghẹt” tối đa con đường này bằng tất cả phương tiện vũ khí hiện đại có trong tay. Và ta không có cách nào khác là phải chấp nhận mọi khó khăn gian khổ, kể cả sự hy sinh để đi tới. Đi bằng nhỏ lẻ, âm thầm, luồn lách tránh mọi sự dò tìm vây bắt của quân thù; đi bằng các đơn vị họp thành đối đầu với quân địch, đánh địch, nhố đồn bót, phá vòng vây địch mà hướng tới. Con đường hành lang ấy vẫn sống, vẫn nối thông, chuyển động như một mạch máu trong cơ thể hoàn chỉnh của chiến trường B.2 trong suốt thời gian đánh Mỹ.

Từ Bến Cầu (Tây Ninh) men theo hữu ngạn sông Vàm cỏ Đông xuôi hướng tây - nam, cứ xuyên màn đêm mà đi, mất đúng bốn đêm chúng tôi mới tới huyện Đức Huệ - địa bàn của tỉnh Long An. Từ đây quang cảnh mang dấu ấn đồng bằng Nam Bộ, với những cánh đồng thẳng cánh cò bay, cắn tận chân mây, ngang dọc là những con kênh thẳng tắp, vạch thành các ô cờ đẹp mắt. Cũng từ đây, đoàn chúng tôi gồm bảy anh em đi trong không khí căng thẳng, ban ngày đề phòng “cán gáo”, đêm xuống là “pháo bầy tọa độ”, kèm theo muỗi, chét của vùng hoang cỏ lác. Càng xuôi về phía đông - nam, địa hình càng trống trải, phần lớn là đồng cỏ xen kẽ những vạt rừng tràm về mùa này vẫn còn xâm xấp nước, khó đi. Đêm thứ năm của cuộc hành trình, chúng tôi tới địa phận Đồng Tháp Mười. Một cảm xúc lâng lâng rộn lên trong tôi về cái địa danh thân quen mà hấp dẫn nay mới tận mắt nhìn thấy. Một luồng gió trong lành từ bốn hướng của cánh đồng vẫn dang còn ngập nước thổi nhẹ vào da thịt gây cảm giác dễ chịu xua vợi cái mệt nhọc sau nhiều đêm liên tục hành quân. Nói tới Đồng Tháp Mười là liên tưởng đến mùi thơm ngào ngạt quyến rũ của hoa sen, gợi cảnh trong trắng, thơ mộng nơi đây. Nhưng trước mắt tôi lại không hoàn toàn như thế, mà chỉ một màu nước bạc đơn điệu, một cánh đồng hoang vắng, vì Mỹ - ngụy đã coi nơi đây là một trong những vùng tự do bắn phá hủy diệt, khiến cảnh sắc càng thêm u tịch, tiêu điều.

Thực tế cay nghiệt của Đồng Tháp Mười đã là mệnh lệnh nghiêm túc đối với chúng tôi. Tất cả hành lý đều được bọc gọn vào vải nhựa ni lông, vừa làm phao bơi khi nước ngập quá đầu; những giấy tờ, tài liệu được gói cẩn thận để sẵn sàng cho cuộc lặn lội đêm nay. Riêng tôi còn thêm việc kiểm tra và bọc thêm hai lần ni lông nữa ra ngoài cái phong thư mật lệnh của Bộ tư lệnh Miền để không bị ngấm nước, giữ sao cho còn khô nguyên, rõ chữ, đến tận tay đồng chí tư lệnh Phân khu 3.

Mặt trời lặn, màn đêm buông nhanh, giờ phút của cuộc hành quân cắt qua cánh đồng đầy nước bắt đầu xuất phát từ vùng Ba Thu. Cảm giác đầu tiên khi đặt chân xuống đồng nước chua phèn thấy thoải mái, nước ngập đến đâu gây mát dịu đến đấy. Nhưng đi khoảng năm trăm mét, cái mệt xuất hiện, hai đầu gối mỏi rời bước đi nặng nề, chậm chạp vì nước cản, vì nông sâu khác nhau có chỗ nước chùm đầu gối, có quãng nước tới thắt lưng, có đoạn tụt hẫng nước ngập tới cổ. Cứ thế mà đi, đi trong yên lặng và căng thẳng, phần vì phải nghe ngóng động tĩnh, đề phòng trực thăng địch đi tuần đêm xả súng liên thanh xuống; phần vì phải thắng những đàn muỗi vàng vo vo bám quanh, những bầy đỉa thật to thấy động nước kéo đến... Vào khoảng 20 giờ, bầu trời cuối năm đen kịt, chẳng thấy đâu là bờ nữa, bốn bề chỉ nước là nước, thì có tiếng động cơ trực thăng từ phía Sài Gòn vọng lại. Tất cả vẫn rẽ nước mà đi, coi như không có gì xảy ra cả, vì nghĩ rằng đêm tối như thế này, máy bay địch có trông thấy gì đâu mà đề phòng. Tôi vội nhắc nhở: - Chú ý! Máy bay địch bay đêm vẫn có mắt đấy. Mắt của nó là bộ phận hồng ngoại tuyến.

- Nó nhìn rõ ta? Một đồng chí đi cạnh hỏi.

- Không nhìn rõ hình thù người cụ thể, nhưng nếu ta đi động là chúng biết liền - tôi giải thích.

Nghe tôi nói có lý, mọi người im lặng, tiếp tục vừa đi vừa nghe ngóng.

Tiếng ầm ì tắt dần, không gian trở lại im ắng, chỉ còn cái bát ngát mênh mông của một vùng đồng nước rộng lớn, đơn điệu như mặt biển cả không thấy đâu là bờ, thỉnh thoảng bắt gặp một doi cỏ, lác đác một ít cây tràm hoang dại, gầy còm, cong queo chi cao độ quá đầu người. Bỗng tiếng động cơ trực thăng lại ẩm ì vẫn từ phía Sài Gòn dội lại mỗi lúc một gần, tôi liền nhắc nhở mọi người chú ý đề phòng rồi quay mặt về hướng phát ra tiếng động. Khi thấy anh đèn sáng đỏ lập lòe nơi đầu máy bay, tôi kịp hô:

- Tất cả đứng im tại chỗ, hạ thấp mình xuống!

Quan sát một lượt, tôi thấy mọi người nghiêm chỉnh làm theo. Lúc này không có một vật nào đi động, tất cả chỉ còn như những cái chấm đen, cố định trên mặt nước.

Máy bay địch rẹt qua, rất thấp, tiếng nổ như xé trời, cánh quạt quay mạnh, gây mặt nước xao động, tạo thành lóp sóng mạnh như muốn xô đẩy chúng tôi, phải gắng không di động. Tôi căng thẳng theo dõi tiếng động của máy bay, hồi hộp chờ đợi nó vòng lại. Bởi vòng lại, có nghĩa là ta để lộ, địch phát hiện được mục tiêu, chúng sẽ bắn như đổ đạn xuống với một xác suất rất nhỏ và chỉ một mục tiêu trúng đạn, thế là địch đã đạt yêu cầu của chuyến đi ăn sương. Nhưng hồi hộp tan nhanh, tiếng động cơ máy bay xa dần, vòng rộng, theo đường số 4 trở về Sài Gòn.

Tất cả đứng bật dậy, kèm theo là tiếng râm ran nói cười. Thắng lợi đã kích thích tinh thần, nâng bước chúng tôi quên cả mệt mỏi. Quầng sáng nơi cầu Bến Lức mỗi lúc một gần. Đêm nay là đêm thứ sáu của cuộc hành trình. Càng gần tới đích càng vất vả gian nan, phải bì bõm lội nước liền bốn tiếng đồng hồ, người thấm lạnh, da nhợt nhạt nhăn nheo. Khoảng 22 giờ chúng tôi mới tới điểm vượt đường số 4 chỉ cách Bến Lức hai cây số, nghe rõ tàu bo bo của địch đang tuần tiễu trên sông Vàm cỏ Đông. Dừng lại quan sát động tĩnh và kiểm tra lại hành lý, chúng tôi vượt nhanh qua lộ, đi về địa phận huyện Tân Trụ. Phải mất một tiếng đồng hồ nữa, tức là vừa đúng 23 giờ đêm 23 tháng Chạp năm Đinh Mùi tôi mới đến noi ở của anh Tư Chiến, tư lệnh phó Phân khu phụ trách hậu cần. Hôm sau 24 tháng Chạp, tôi đi thuyền gắn máy đuôi tôm xuống sở chỉ huy Phân khu 3, đặt ở nơi tiếp giáp giữa hai sông lớn Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây.

Một người cao to, có nước da đen sạm với những nếp nhăn hằn trên hai má, đôi mắt thâm quầng (có lẽ vì ít ngủ), nhưng vẫn không làm mờ đi cái kiên nghị, lạc quan, người đó là anh Tư Thân1, là tư lệnh Phân khu. Phút đầu tiên gặp anh, đã xóa đi trong tôi cái trống trải, bâng khuâng khi đặt chân đến một chiến trường mới lạ. Tuy chưa gặp anh, nhưng được nghe nhiều đồng chí trên R (chỉ căn cứ, nơi đặt cơ quan Trung ương cục) nhắc đến anh với nhiều thiện cảm, khiến tôi thực sự mến anh, tin anh trước khi gặp anh hôm nay. Anh nằm vùng, bám trụ ở đất Long An suốt cuộc kháng chiến Chín năm, không đi tập kết, ở lại theo chỉ thị của Đảng, tổ chức lực lượng, cùng nhân dân tiếp tục tham gia chống Mỹ, cứu nước cho đến ngày nay. Những gian khổ, thăng trầm không làm anh già trước tuổi mà trái lại vẫn hoạt bát, tinh nhanh, sôi nổi và nhiệt tình đối với công việc. Anh nói ít nhưng rất năng nổ, tháo vát trong chỉ đạo thực tiễn, tổ chức thế trận chiến tranh nhân dân để đối mặt với kẻ thù xâm lược. Anh thuộc người, nhớ việc, được cấp dưới và quần chúng mến phục, tin theo.

Xem xong giấy giới thiệu của anh Lê Đức Anh, anh nhìn tôi một cách thiện cảm rồi quay ra nói với các anh em trong Bộ tư lệnh Phân khu với những lời tốt đẹp về tôi, về Binh chủng Đặc công và đặc biệt về miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Người thứ hai tôi gặp là anh Chín Cần2, bí thư tỉnh ủy Long An, kiêm chính trị viên tỉnh đội, nay là chính ủy Phân khu 3. Anh người tầm thước sống hòa mình và rất chân tình. Anh quê ở Chợ Lớn nhưng gắn bó với Long An ngay từ những ngày đầu đánh Pháp (vì Chợ Lớn xưa thuộc tỉnh Long An). Anh Chín cần với anh Tư Thân quan hệ mật thiết, gắn bó như hình với bóng, cũng nằm vùng, bám trụ, trong suốt hai cuộc kháng chiến. Sau khi biểu dương sự có mặt của tôi ở chiến trường Long An lúc này là rất quý, anh chỉ thị cho tôi: Long An đã có lực lượng đặc công nhưng chiến đấu chưa nhiều, kinh nghiệm còn ít. Bây giờ anh Tư vô đây, người đã từng làm tham mưu phó đặc công, sẽ bổ sung được nhiều kinh nghiệm quý cho đặc công Long An chắc chắn chúng ta sẽ hoạt động đạt hiệu quả chiến đấu cao.

Một cuộc hội ý trong Bộ tư lệnh Phân khu được tiến hành nhanh gọn. Tôi được phân công phụ trách tiểu đoàn bộ binh và một đại đội đặc công nước ra bám đường số 4 đoạn từ Bến Lức đến thị xã Tân An, có nhiệm vụ vừa canh giữ đường, giữ cầu và đồng thời chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện kỹ thuật để cắt đường, phá cầu khi có lệnh...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn