Máu xương đổ xuống thành cổ
Trong “ Thêm một lần cho Tổ quốc được sinh ra” , nhà thơ Nguyễn Việt Chiến viết:
“ Có nơi nào như Tổ Quốc chúng ta
Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ
Khi giặc đến vạn người con quyết tử
Cho một lần Tổ Quốc được sinh ra”
Có những thời khắc lịch sử mà không thể viết được bằng ngôn từ mà bằng tuổi trẻ và những khát khao của người lính, bằng giọt máu nóng thấm xuống đất mẹ. Dân tộc ta đã đi qua bóng tối của chiến tranh nhờ những con người bình dị song hết sức phi thường - những anh hùng đã chọn “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Nếu không có những người chiến sĩ đã ngã xuống giữa cảnh trời bom đạn, chấp nhận hy sinh tương lai của chính mình để giữ trọn từng tấc đất cho quê hương, thì liệu chúng ta có có được nước Việt của ngày hôm nay? Thành cổ Quảng Trị - một trong những trang sử đẫm máu của lịch sử Việt Nam, nơi được ví như “ cối xay thịt”, nơi 81 ngày đêm không ngủ, đỏ lửa đã biến những người lính tuổi mười tám, đôi mươi trở thành một biểu tượng bất tử của lòng quả cảm. Họ đã để tuổi trẻ và hoài bão lại giữa dòng sông Thạch Hãn, để cho đất nước tiếp tục sống và giữ trọn vẹn hơi thở đến ngày hôm nay.
Giữa vòng quay không ngừng của năm tháng, có những con người mang trong mình kí ức không phai của một thời hoa lửa. Tiêu biểu như vị cựu chiến binh Trương Văn Lương, hiện ông đang sinh sống tại Hà Nội, là một trong những người lính năm xưa đã trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Giữa mưa bom, bão đạn nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh đến nghẹt thở, ông cùng những người đồng đội vẫn kiên cường bám trụ, lấy lòng yêu nước và ý chí kiên cường làm điểm tựa để giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ Quốc. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng nỗi đau và ký ức về những ngày tháng ác liệt ở Thành cổ vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim người lính năm ấy. Trở về với đời sống thường nhật, ông Lương sống giản dị, nghĩa tình, luôn gìn giữ và lan tỏa tình yêu quê hương đến mọi người. Là một trong những người lính may mắn bước khỏi mảnh đất từng được gọi là “Cối xay thịt”, nên ông càng trân trọng sâu sắc giá trị hòa bình - điều mà hôm nay chúng ta đang được sống trong đó.
Người lính trẻ Trương Văn Lương bước vào tâm điểm của lửa lịch sử trong Trung đoàn 18 bộ binh, Sư đoàn 35, Quân đoàn 2. Đêm 28 tết, khi khắp nơi rộn ràng sắm sửa đào quất ăn tết hòa bình, ông Lương cùng với đồng đội của mình nhận được lệnh chiến đấu, gác lại phía sau sự sum vầy, êm ấm của gia đình nghe theo tiếng gọi của Tổ Quốc. Vào ngày 30/3, khi mặt trận Quảng Trị bùng nổ, đơn vị của ông Lương đang dừng chân ở Đèo Ngang - nơi một bên là núi non trùng điệp, một bên là biển cả mênh mông, rồi tiếp tục hành quân trên con đường tiến tới Thành cổ Quảng Trị. Trên đường ra trận, những chàng lính trẻ theo sau lưng là chiếc balo nặng trĩu và bước chân vội vã giữa vùng vây khói lửa đang chờ ở phía trước. Mệt nhọc, khó khăn là thế, nhưng những người lính trẻ họ vẫn lạc quan hát những khúc ca đầy tự tin, khí thế : "Sát vai bên nhau đội ngũ trung kiên, Đường dài gian khó càng nêu cao chí quyết thắng. Súng chắc trong tay đồng lòng đi tới...", những lời bài hát như sự vỗ vai động viên, khích lệ để mỗi người đồng đội cùng nhau cầm chắc tay súng trên chiến trường. Kể từ khoảnh khắc ấy, cựu chiến binh Trương Văn Lương đã gửi trọn thanh xuân mình với 81 ngày đêm khốc liệt bảo vệ thành cổ Quảng Trị - nơi tuổi trẻ hóa thành khói bom, còn lòng yêu nước thì hóa thành bất tử.
Lời dặn dò của người anh Trương Văn Lương khi bước vào trận đấu vang lên ngắn gọn nhưng đầy khí phách: “ Khi lệnh của đại đội xung phong anh sẽ dẫn đầu, chúng mày phải chạy theo anh, không được đứa nào chần chừ đấy nhá. Đứa nào chần chừ lại cái bài cũ, là tao quay lại tao bắn chúng mày trước đấy”. Trong hoàn cảnh đạn bom khốc liệt, ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh, ông vẫn sẵn sàng xông lên phía trước, nhận phần nguy hiểm nhất về mình. Lời nói tưởng chừng cứng rắn, quyết liệt ấy còn chứa đựng tinh thần trách nhiệm lớn lao và niềm tin sắt đá vào đồng đội. Đó không chỉ là một mệnh lệnh chiến đấu mà còn là sự cổ vũ mạnh mẽ, buộc những người lính trẻ phải gạt bỏ sợ hãi, vượt qua nỗi do dự để cùng nhau chiến đấu. Chính sự dứt khoát, gan dạ và tinh thần quyết liệt của người chỉ huy đã trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc, giúp cả đơn vị giữ vững ý chí chiến đấu trong những thời khắc cam go nhất. Qua câu nói ấy, ta càng thấu hiểu hơn phẩm chất cao đẹp của các vị cựu chiến binh, những con người đã sẵn sàng hy sinh bản thân vì nhiệm vụ, vì đồng đội và vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Những lời kể về người lính tại Thành cổ đã tái hiện chân thực và xúc động hình ảnh của một thế hệ thanh niên bước vào chiến tranh khi tuổi đời còn quá trẻ. Họ vốn chỉ là
những chàng sinh viên mới ngoài hai mươi, chưa từng cầm súng, trải qua chiến đấu, vậy mà bây giờ đã phải đối mặt với hiện thực khốc liệt của bom đạn. Sự bỡ ngỡ non trẻ ấy được thể hiện qua chi tiết những người lính tò mò trước những khẩu súng lựu M79 - một loại vũ khí còn rất mới với họ nhưng lại quá quen thuộc với quân Mỹ. Điều đó cho thấy sự chênh lệch lớn về điều kiện chiến đấu, đồng thời phản ánh hoàn cảnh gian khổ mà người lính Việt phải đối mặt. Không chỉ thiếu kinh nghiệm và vũ khí, các chiến sĩ còn phải sống trong nỗi căng thẳng tột độ suốt những đêm phòng ngự tại Thành Cổ. Họ nằm sâu trong những căn hầm dưới lòng đất, nơi bóng tối và sự ngột ngạt bao trùm, đến cả việc thở mạnh cũng không dám vì lo sợ bị địch phát hiện và ném bom xuống hầm. Trong hoàn cảnh sự hiểm nguy luôn rình rập, các anh lính mọi cảm xúc, nỗi sợ hãi để giữ vững tâm thế chiến đấu. Qua lời của ông Lương, các chi tiết chân thực và giàu sức gợi, câu chuyện không chỉ tái hiện sự khốc liệt của chiến tranh mà còn làm nổi bật vẻ đẹp của người lính Việt Nam - những con người đã hy sinh tuổi trẻ, vượt qua nỗi sợ bản thân để hoàn thành nhiệm vụ, góp phần làm nên trang sử vẻ vang của dân tộc.
Khi được nghe câu chuyện này, em không khỏi xúc động và nghẹn ngào. Em cảm thấy thương xót cho những chàng sinh viên mới đôi mươi còn rất trẻ, chưa kịp sống trọn vẹn tuổi thanh xuân đã phải đối mặt với bom đạn khốc liệt của chiến tranh. Những chi tiết như việc các chiến sĩ phải nằm sâu dưới hầm, đến cả hơi thở cũng không dám thở mạnh vì sợ bị địch phát hiện khiến em thực sự ám ảnh, như thể cảm nhận được sự ngột ngạt, căng thẳng và nỗi sợ luôn bao trùm lên từng khoảnh khắc sống của họ. Thế nhưng, vượt lên trên tất cả, em cảm nhận rõ ràng tinh thần dũng cảm và ý chí kiên cường của những con người ấy. Dù còn rất trẻ, họ vẫn sẵn sàng xung phong ra trận, đặt tính mạng của bản thân sau nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Câu chuyện không chỉ khiến em thêm biết ơn và khâm phục thế hệ cha anh đã hy sinh tuổi trẻ cho hòa bình hôm nay, mà còn giúp em nhận ra trách nhiệm của bản thân trong việc trân trọng cuộc sống, học tập và sống xứng đáng với những mất mát, hy sinh to lớn ấy.
Câu chuyện về những người lính trẻ tại Thành Cổ không chỉ là một mẩu ký ức lịch sử, mà còn là bài học sâu sắc về lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm và sự hy sinh của thế hệ cha anh. Hình ảnh của những chàng sinh viên đôi mươi chưa từng cầm súng, đã rời giảng đường, gác lại ước mơ riêng để khoác lên mình màu áo lính, bước vào tâm điểm khốc liệt của chiến tranh. Giữa mưa bom bão đạn nơi Thành Cổ Quảng Trị, họ chiến đấu không chỉ bằng sức trẻ mà còn bằng niềm tin sắt son vào độc lập, tự do của Tổ quốc. Sự ngã xuống của họ không làm nên nỗi bi thương đơn thuần, mà hóa thành ngọn lửa thiêng hun đúc ý chí cho các thế hệ hôm nay và mai sau: sống có trách nhiệm, biết trân trọng hòa bình và không quên những hy sinh đã làm nên dáng hình đất nước.


