Mẹ Đào Thị Vui với Chiếc nồi đồng nấu cơm cho hơn 20 cán bộ
Giữa những năm chiến tranh ác liệt ở Hải Lăng, căn nhà Mẹ Đào Thị Vui là một cơ sở cách mạng bí mật với những căn hầm che giấu cán bộ. Chiếc nồi đồng Mẹ từng dùng nấu cơm cho hơn 20 cán bộ, chiến sĩ vẫn được gìn giữ đến hôm nay, như một kỷ vật của những năm tháng Mẹ vừa hoạt động cách mạng, vừa chịu nỗi đau mất chồng và người con trai duy nhất.
Trong căn bếp nhỏ của Mẹ Việt Nam Anh hùng Đào Thị Vui ở Đại An Khê, có một chiếc nồi đồng đã ngả màu theo thời gian. Hơn nửa thế kỷ qua, Mẹ vẫn giữ chiếc nồi ấy như một phần ký ức của những năm chiến tranh. Ngày trước, nó từng được dùng để nấu những bữa cơm cho hơn hai mươi cán bộ, chiến sĩ đang hoạt động bí mật. Một vật dụng rất bình thường trong căn bếp của người nông dân, qua thời gian đã trở thành chứng tích của những ngày Mẹ âm thầm nuôi giấu và bảo vệ lực lượng cách mạng ngay giữa vùng chiến sự.
Mẹ Đào Thị Vui sinh năm 1923 tại xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Báo Quân đội nhân dân cho biết Mẹ sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng từ khi còn trẻ. Người bạn đời của Mẹ là ông Lê Hồi, một du kích địa phương. Hai người đến với nhau giữa những năm kháng chiến, cùng chia sẻ công việc và lý tưởng cách mạng.
Cuộc sống gia đình không kéo dài được bao lâu. Trong những năm cuối thập niên 1940, ông Lê Hồi bị bắt khi đang làm nhiệm vụ và sau đó hy sinh. Báo Quân đội nhân dân năm 2026 mô tả ông đã chịu tra khảo nhưng không khuất phục. Mẹ từ đó phải một mình chăm sóc người con trai duy nhất, đồng thời tiếp tục con đường mà hai vợ chồng đã lựa chọn.
Người con duy nhất của Mẹ là Lê Thịnh. Được nuôi dưỡng trong một gia đình có truyền thống cách mạng, anh tham gia hoạt động từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Báo Quân đội nhân dân cho biết năm 1966, khi khoảng 20 tuổi, anh bị bắt và bị đưa ra Nhà tù Phú Quốc. Gần một năm bị giam giữ, anh chịu nhiều cuộc thẩm vấn nhưng không khai báo. Sau khi được trả tự do, dù mang thương tích, anh tiếp tục nối lại liên lạc với tổ chức và trở lại hoạt động.
Một nguồn khác của Báo Tiền Phong cho biết Lê Thịnh sau này là cán bộ kinh - tài, hoạt động bí mật trong kháng chiến chống Mỹ. Điều này giúp bổ sung khá rõ tính chất công việc của người con Mẹ.
Rồi người con duy nhất cũng hy sinh. Thời điểm chính xác hiện còn khác nhau giữa các nguồn chính thống, nhưng tất cả đều thống nhất rằng Lê Thịnh là liệt sĩ trong kháng chiến chống Mỹ. Sau khi đã mất chồng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Mẹ lại phải đón nhận tin người con trai duy nhất không trở về.
Những mất mát ấy không khiến Mẹ dừng hoạt động. Trong những năm chiến tranh ác liệt, căn nhà của Mẹ trở thành một cơ sở cách mạng bí mật. Dưới nền nhà và trong khu vực sân có các căn hầm được ngụy trang để cán bộ, chiến sĩ trú ẩn mỗi khi đối phương càn quét. Ban ngày, ngôi nhà vẫn giống như bao gia đình nông dân khác; nhưng khi cần, đây lại trở thành nơi nghỉ chân, tiếp tế và bảo vệ lực lượng cách mạng.
Công việc ấy luôn đi cùng nguy hiểm. Theo Báo Quân đội nhân dân, phía đối phương nhiều lần nghi ngờ Mẹ nuôi giấu cán bộ, tổ chức theo dõi và lục soát nhà. Mẹ từng bị bắt, đánh đập và tra khảo nhằm buộc khai vị trí các hầm bí mật. Dù vậy, Mẹ không khai báo nơi cán bộ đang trú ẩn.
Báo Tiền Phong cũng xác nhận từ khoảng tuổi 20, Mẹ đã tham gia công việc liên lạc, nuôi giấu cán bộ, về sau tiếp tục đào hầm và che chở lực lượng hoạt động bí mật; Mẹ nhiều lần bị bắt và tra khảo nhưng vẫn bảo vệ cơ sở.
Trong những năm ấy, chiếc nồi đồng hiện Mẹ còn lưu giữ được sử dụng để chuẩn bị cơm cho cán bộ và bộ đội. Mẹ kể có lúc phải nấu cho hơn 20 người. Điều khó khăn không chỉ là tìm đủ lương thực giữa chiến tranh mà còn phải làm mọi cách để đối phương không nhận ra trong nhà đang có nhiều người.
Sau khi xay thóc, Mẹ không để lại đống trấu như một gia đình đang nấu lượng lớn cơm mà mang trấu đi chôn để xóa dấu vết. Có lần thực phẩm vừa mua ngoài chợ bị lấy mất, Mẹ phải đi từng nhà trong xóm xin một ít muối, vừng và những thứ có thể gom được để cán bộ, chiến sĩ có bữa ăn trước lúc lên đường.
Những chi tiết ấy cho thấy công việc hậu cần trong chiến tranh đôi khi diễn ra ngay trong một căn bếp. Một nồi cơm, một đống trấu hay số lượng thực phẩm bất thường đều có thể làm lộ cả cơ sở. Vì vậy, việc nuôi giấu cán bộ không chỉ cần lòng dũng cảm mà còn đòi hỏi người dân phải luôn tìm cách che giấu từng dấu vết nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày.
Sau ngày đất nước hòa bình, chiếc nồi vẫn được Mẹ giữ lại. Với Mẹ, đó không đơn giản là đồ dùng cũ mà là vật đã đi cùng những ngày nuôi bộ đội, giấu cán bộ và đối diện với những cuộc kiểm tra, bắt bớ. Tháng 9/2026, khi Báo Quân đội nhân dân thực hiện bài chân dung về Mẹ, chiếc nồi vẫn nằm trong căn bếp ở Đại An Khê.
Câu chuyện của Mẹ còn có một lát cắt rất đặc biệt vào năm 2025. Ngày 26/7, trong chuyến công tác tại Quảng Trị, Thủ tướng Phạm Minh Chính đến thăm Mẹ. Trung ương Đoàn và các đơn vị đã trao cho Mẹ những bức ảnh và một đoạn phim được phục dựng bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo, tái hiện hình ảnh Mẹ bên người con trai duy nhất là liệt sĩ Lê Thịnh.
Báo Tiền Phong ghi lại khoảnh khắc Mẹ xúc động khi nhận di ảnh con. Ngoài bức chân dung được phục dựng, Mẹ còn được tặng một hình ảnh gia đình và video mang tên “Ngày đoàn viên”, sử dụng công nghệ để tái hiện một cuộc sum họp mà chiến tranh đã khiến gia đình Mẹ không bao giờ có được trong đời thực.
Đến năm 2026, Mẹ vẫn sống tại Đại An Khê. Tháng 2/2026, lãnh đạo tỉnh Quảng Trị đến thăm, chúc Tết Mẹ; tháng 7/2026, đoàn của Kiểm toán Nhà nước tiếp tục thăm và tặng quà. Tháng 9/2026, Báo Quân đội nhân dân tiếp tục ghi lại câu chuyện Mẹ và chiếc nồi đồng. Những nguồn này cho phép xác nhận Mẹ vẫn còn sống trong năm 2026.
Cuộc đời Mẹ Đào Thị Vui vì vậy không chỉ được ghi nhớ bởi việc Mẹ có chồng và người con duy nhất là liệt sĩ. Bản thân Mẹ cũng trực tiếp tham gia cách mạng, làm liên lạc, nuôi giấu cán bộ, đào hầm bí mật, chịu bắt bớ và tra khảo.
Nếu những tấm bằng, huân chương ghi lại sự ghi nhận của Nhà nước, thì chiếc nồi đồng lại kể câu chuyện bằng một cách khác. Nó từng nằm trên bếp lửa, từng nấu cơm cho những người đang ẩn mình dưới hầm, từng khiến Mẹ phải chôn cả trấu để không lộ dấu vết. Hơn nửa thế kỷ sau, chiếc nồi vẫn còn đó và trở thành một trong những ký ức rất cụ thể về cuộc đời của Mẹ Việt Nam Anh hùng Đào Thị Vui trên vùng đất Hải Lăng.
Nguồn chính: Báo Quân đội nhân dân / Sự kiện và Nhân chứng; bài “Người mẹ Hải Lăng”, tác giả Trà My, đăng ngày 22/9/2026.



