Mẹ Lê Thị Vân (1902 - 1985)
Lê Thị Vân (1902 - 1985)
Khoảng đầu những năm 30 thế kỷ XX,làng Bình Đa nhỏ bé (nay thuộc phườngAn Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh ĐồngNai) mới có hơn một ngàn dân, đã đónnhận cặp vợ chồng trẻ Nguyễn Văn Ký -Lê Thị Vân từ Cù Lao Phố qua làm ăn sinh sống. Mẹ TámVân sinh năm 1902, từ đó coi làng này là quê hương thứ hai.Thời kháng chiến chín năm, Bình Đa là căn cứ du kíchnổi tiếng của tỉnh Biên Hòa cũ, nằm trên hành lang giaoliên của ta từ Chiến khu Đ nối thông xuống Long Thành,Bà Rịa. Bao đoàn cán bộ từ Bắc vào Nam hoặc từ Nam Bộra Trung ương đều phải qua đây. Nhiều đơn vị bộ đội từngđứng chân ở đây bảo vệ đường dây giao liên vận tải của ta,vươn ra đánh đường xe lửa, đường quốc lộ 1, quốc lộ 15...Nhiều cán bộ từ Bình Đa đột vào nội ô Biên Hòa hoặc SàiGòn công tác. Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến giữanăm 1952, căn cứ này là vùng độc lập, nhộn nhịp các hoạtđộng kháng chiến.Năm 1946, ông Nguyễn Văn Ký và bà Lê Thị Vân đã dắtcon trai là anh Nguyễn Văn Ly (Ba Ly) trao tận tay đồngchí Lê Thoa - chỉ huy phân đội 5(1) - với mấy lời mộc mạcchân tình:- Cho nó đi với mấy ông, chừng nào độc lập hết giặc thìcho nó về. Đơn vị bộ đội này sống chan hòa với dân Bình Đa, đượcbà con tin yêu, quý mến. Các anh làm công tác dân vậngiỏi, chiến đấu hăng hái, bảo vệ các đoàn công tác củatỉnh, huyện vượt đường 15 và đường 1.Một đêm đầu tháng 7 âm lịch năm 1948, Ba Ly cùngmột tốp chiến sĩ đi đánh đoàn công voa. Ông bà hẹn mấybữa tới mọi người về ăn rằm. Nhưng rồi tin sét đánh bayvề: anh Ba Ly và đồng đội lọt ổ phục kích địch ở gần quánChín Nếp (khu vực Trường Công an tỉnh Đồng Nai bâygiờ) và đã hy sinh. Mẹ Tám Vân hối thúc ông Năm Ký đitìm xác con; mọi người kiếm suốt ba đêm mới thấy, mangvề an táng ngay đất cạnh nhà.Ông bà sau đó đồng ý cho anh Nguyễn Văn Hoa (NămHoa) thoát ly để trả thù cho anh ruột. Anh hăng hái côngtác trong Ban Công tác thành số 7, sau đó là cán bộ củaĐoàn vũ trang tuyên truyền đứng chân ở rừng Vĩnh Cửu(nay thuộc địa bàn các phường Tam Hòa, Long Bình). ĐếnHiệp định Genève tháng 7/1954, anh là Thị ủy viên củaThị ủy Biên Hòa.Địch chiếm căn cứ Bình Đa sau trận lụt Nhâm Thìn(tháng 10/1952), gia đình mẹ Tám Vân tạm lánh về CùLao Phố. Mẹ xây ngôi miễu Bà nho nhỏ ở bờ sông RạchCát (Anh Ba Lễ - con rể mẹ là Bí thư Thị ủy Biên Hòa -cất giấu một số súng dưới gầm bệ thờ khi bộ đội ta đi tậpkết). Giữa năm 1956, Mỹ - Diệm mở chiến dịch TrươngTấn Bửu ồ ạt đánh phá phong trào cách mạng Đông NamBộ. Hai giờ chiều ngày 2/8/1956, một xe cảnh sát địch vềấp Bình Xương bắt ông Năm Ký. Mẹ Tám Vân níu kéo,bị chúng đẩy luôn lên xe, chở về phòng nhì Tiểu khu BiênHòa điều tra, xét hỏi, song không thu được lời khai nào. Hai ngày sau, mẹ được thả. Sáng 10/8/1956, chúng chở ôngNăm - chồng mẹ về lò gạch bìa rừng chồi An Hảo (chânđồi nhà máy đường Biên Hòa bây giờ) để “dẫn đường choquốc gia bắt cán bộ Việt Cộng nằm vùng”. Ông bỏ chạy,địch xả súng bắn chết. Mẹ Tám Vân tưởng có thể chết theochồng. Mẹ nhờ người quen xin phép chính quyền chôn cấtông Năm - người đảng viên kiên cường. Bị lùng riết, anhNăm Hoa và một số cán bộ thị xã Biên Hòa được Thị ủy bốtrí cho đi thoát ly, gia nhập đơn vị C.250 khu Đông NamBộ. Đêm 7/7/1959, anh được cử làm chỉ huy tổ đặc côngtập kích Nhà Xanh(2) (khu máy cưa Tân Mai) diệt 2 cố vấnMỹ đầu tiên ở chiến trường Việt Nam.Anh Bảy Huệ - con trai mẹ - bị địch bắt xét hỏi nhưngvì không có chứng cớ nên được tha về. Vừa đến tuổi quândịch, anh từ biệt mẹ và vợ mới cưới, đi thoát ly đầu tháng10/1960 trong cao trào Đồng khởi ở khắp các tỉnh miềnNam. Mẹ Tám Vân và chị Thu Hồng phao tin anh đi línhsư đoàn 7 ở Mỹ Tho, sau đó tung tin anh biệt tích để địchkhông làm khó dễ cho gia đình.Ở Chiến khu Đ, lúc rảnh rỗi, anh Năm Hoa kỳ cạchmài khoét làm chiếc cối ngoáy trầu bằng khúc ngà voi xinđược, rồi gửi về cho mẹ. Đầu năm 1962, mẹ nhận được tindữ: anh Năm Hoa hy sinh trong trận chống càn ở Bà Đãngày 17/12/1961. Đau xót tưởng chừng đốn gục người mẹmang ba cái tang: chồng và hai con.Con trai út Nguyễn Văn Báo (Tám Báo) đã lớn, mẹthấy không thể để con sống trong vòng kìm kẹp của giặc. Mẹ gửi núm ruột cuối cùng cho Bí thư Thị ủy Ba Lễ -con rể mẹ. Tám Báo gan dạ, sẵn sàng nhận mọi công tácdù khó khăn nguy hiểm. Anh rể lại rèn em vợ rất nghiêmnên chàng thanh niên mới lớn này tiến bộ nhanh. Đêm12/7/1962 (11 tháng 6 năm Nhâm Dần), anh và đồng độiđi công tác, lọt ổ phục kích địch tại suối Chùa (trongkhu Long Bình hiện nay) và bị hy sinh. Địch thu súng,mang xác anh về quận bêu để hù dọa nhân dân. Mẹ TámVân nghe tin, xỉu đi, tưởng có thể chết ngay theo con.Bọn địch cho người hỏi mẹ:- Tám Báo đi theo Việt Cộng hồi nào?- Nó xin phép chính quyền đi làm ăn, bữa nó chết làbữa giấy phép gần hết hạn, chắc nó về xin tiếp. Khônghiểu vì sao nó bị mấy ông bắn chết?- Con bà theo Ba Lễ, chúng tôi thu được súng tại trận mà!- Chắc nó chết vì đi ngang nơi các ông bắn nhau. Nótừ nhỏ tới giờ đi đâu mà có súng?Ít bữa sau, chính quyền quận cho gọi mẹ lên hỏi tiếp.Chiếc cối ngoáy trầu do anh Năm Hoa làm cùng với bịchtrầu thuốc theo mẹ vào xà lim giặc. Lý lịch gia đình mẹ,chúng nắm rất chắc: bốn liệt sĩ, nhưng anh Bảy Huệkhông biết mất hay còn, anh Ba Lễ - con rể ở mật khuHưng Lộc, Bàu Hàm thường lui tới những cơ sở nào ởnội ô và ai hay lui tới nhà mẹ? Chúng hù dọa, dụ dỗ,vặn vẹo... chỉ cốt moi được ba điều trên. Nhưng câu trảlời chỉ là: “không biết”, “không hay tin”, “không ai léohánh”... suốt một tuần. Cuối cùng chúng phải thả mẹ.Vào những lúc khó khăn, ngặt nghèo nhất, gia đìnhmẹ Tám Vân vẫn nuôi giấu anh em cán bộ về hoạt động làm giao liên... Các con, dâu, rể, cháu nội, ngoại cả thảychín người đi thoát ly vào các thời điểm khác nhau. Bảnthân mẹ, con gái, con dâu đều bị tù; con rể bị đày đi CônĐảo. Mẹ luôn luôn có bịch trầu thuốc, cối ngoáy và bọcquần áo chuẩn bị đi ở tù.Gia đình mẹ Tám Vân là tiêu biểu cho các gia đình chỉđứng ở phía cách mạng. Cuối đời, mẹ kịp hưởng hạnhphúc to lớn khi đón con trai thứ bảy trong đoàn quânchiến thắng trở về. Mẹ vinh dự là mẹ của Anh hùng Lựclượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Huệ, được tặngHuân chương Độc lập, ra Thủ đô viếng Chủ tịch Hồ ChíMinh và dự hội nghị những gia đình cách mạng tiêubiểu. Mẹ được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Bàmẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTNngày 17/12/1994.



