Mẹ Việt Nam Anh hùng

MẸ NGUYỄN THỊ HÒA - ÁNH ĐÈN BÊN VÕNG VÀ ĐÔI VAI GÁNH CẢ GIANG SƠN

MẸ NGUYỄN THỊ HÒA - ÁNH ĐÈN BÊN VÕNG VÀ ĐÔI VAI GÁNH CẢ GIANG SƠN

Đắk Lắk28/02/2026Đặng Văn Truyền Thông (Trường Đại học Tây Nguyên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

MẸ NGUYỄN THỊ HÒA - ÁNH ĐÈN BÊN VÕNG VÀ ĐÔI VAI GÁNH CẢ GIANG SƠN

“Mẹ tiễn con đi giữa mùa hoa đỏ

Nước mắt lặn vào trong, nén tiếng thở dài

Đất nước cần, mẹ chẳng giữ riêng ai

Gánh cả giang sơn trên đôi vai gầy guộc”

Giữa những nhà tranh nghèo miền quê quan họ, những bà mẹ Việt Nam vẫn ngày đêm không ngủ bên ánh đèn dầu. Họ tìm niềm tin làm cơ sở, chia sẻ từng bát cơm khoái, từng chiếc áo ấm gửi ra chiến trường. Một số mẹ được tặng quà khen ngợi của Tổ quốc khi tóc đã bạc, nhưng họ vẫn an ủi rằng: “Phải sống sức mạnh để là chỗ dựa cho con ở ngoài trận chiến.” Từ những đêm đào hầm ẩn giấu, những chuyến bay trốn quân dưới bom rơi, cho đến việc liều ăn để hỗ trợ lương thực, những người mẹ này luôn mang trong lòng sự bảo dung, ý chí và tình yêu Tổ quốc vô hạn.

Trong suốt thời gian dài của cuộc chiến kháng chiến gian lao của dân tộc, sức mạnh của Việt Nam không chỉ được xác định cụ thể bằng những chiến công đại đại ở chiến trường mà còn được kết tinh từ lòng an toàn của "độ quân tóc dài" ở hậu phương. Họ là những người phụ nữ không có sao trên vai, không có huân chương trên đấm khi làm việc, nhưng mỗi chiêu đào đào hay mỗi gánh nặng làm tiếp tế đều đồng đầy tình nghĩa đất nước. Để khắc họa rõ nét hơn bức chân dung của những "tượng đài sống" này, chúng tôi đã có cơ hội gặp bà Nguyễn Thị Hòa - người phụ nữ đã trải qua những năm tháng khó khăn nhất với đôi vai gầy và trái tim nặng nề nỗi đau.

Mùa xuân năm 1968, khi cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân sắp nổ, đất nước bước vào giai đoạn cam go nhất. Tại quê nhà Yên Dũng, bà Nguyễn Thị Hòa (sinh năm 1940, hiện ở TDP 4, phường Yên Dũng) lúc ấy mới chỉ là một bà mẹ trẻ ngoài đôi thứ bảy. Trong hồi ức của bà, đó là những ngày “trắng đêm không chợp mắt”. Chồng bà đã lên đường nhập ngũ, vào chiến trường Trị Thiên khói lửa, để lại quê nhà người vợ trẻ và hai con con thơ dại.

Bà hồi tưởng: “Thời điểm đó, nam giới trong làng đều lên đường nhập ngũ, chỉ còn lại phụ nữ, người cao tuổi và trẻ nhỏ ở lại. Dù không ai lên tiếng, mọi người đều nhất trí rằng: Hậu phương mạnh mẽ mới đảm bảo an tâm cho tiền tuyến. Chúng tôi vừa phải cầm cày vừa súng, ban ngày làm việc trên cánh đồng, tối lại âm thầm đào hầm để che giấu bộ nhớ.” Ngôi nhà của bà trở thành một "trạm dừng chân" bí mật. Dưới gầm giường gỗ, những hầm bí mật được đào xuyên đêm. Có những lúc nào giặc truy đuổi, tiếng bước chân mét vang vang trên đầu, bà Hòa trầm ngâm nghe. Ranh giới giữa sự tồn tại và cái chết mong manh như một lớp đất, nhưng nhờ sự giúp đỡ và bản tin của người phụ nữ Việt Nam, bà đã không ít lần thành công trong việc câu lạc bộ thù, bảo vệ an toàn cho những người ở vùng đất Bắc Giang trong những năm tháng đó, không khí "Ba sẵn sàng" và "Ba đảm đang" tràn ngập các xóm làng. Cùng với các chị em trong " Đội nữ du kích" và "Hội mẹ" không chỉ giỏi sản xuất mà còn là những người chuyển vận chảy máu nhưng chân không ngừng lại. Bà kể về những chuyến gánh gạo xuyên đêm: “Mỗi gánh gạo nặng 30-40kg, vai gầy rướm máu nhưng chân không dừng bước. Đường đê bị bom Mỹ cày xới, bùn lầy thụt đến đầu gối, nhưng cứ nghĩ đến việc bộ đội ngoài kia đang đói, đang rét là chúng tôi lại đi như bay.” Hỗ trợ âm thanh thầm lặng của người dân địa phương đã cung cấp hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm, góp phần quan trọng vào việc giữ vững tuyến đường giao thông và phá vỡ vây quanh các căn cứ cách mạng Hòa bình được thiết lập vào năm 1975, trong khi gia đình hạnh phúc trong niềm vui tập luyện nhiều, bà lại phải đối mặt với nỗi đau sâu sắc. Khi nhận được tin chồng hy sinh trong những ngày cuối cùng lịch của dịch sử mang Hồ Chí Minh, giác giác như trời đất hạ bệ trước mắt người mẹ trẻ. “Đau lắm chứ, nhưng tôi tự nhủ mình không được phép gục ngã. Mình là vợ liệt sĩ, là điểm tựa duy nhất của các con,” bà nghẹn ngào tâm sự. Trong suốt những tháng đau khổ hậu chiến, bà vừa là mẹ vừa là cha, chăm chỉ làm phổi để nuôi nấn con cái nên người. Có những buổi chiều sau, bà thường ngồi bên hiên, nhìn xa xăm và cố gắng đẻ nước mắt vào trong để các con không thấy nỗi buồn của mẹ. Những bát cơm với ngô, những chiếc áo vá cung chịt mà bà đã tạo ra đã nuôi lớn hai người con trưởng thành, học hành chăm chỉ để trở thành thành những công dân có ích cho xã hội.

Mặc dù đã trôi qua hơn nửa thế kỷ và mái tóc đã bạc như sương, nhưng trong tâm trí bà Hòa, ký ức về một "thời hoa lửa" vẫn còn sống. Đối với bà, đó chính là những năm tháng rực rỡ, tự hào nhất trong cuộc đời. Cuộc sống của bà là minh chứng cho bản trường ca về tình yêu nước, sự thủy chung và hy sinh vô bờ bến của người phụ nữ Việt Nam. Câu chuyện của bà không chỉ mang tính cá nhân mà còn chứa những bài học quý giá cho thế hệ trẻ hôm nay về giá trị của tự làm, độc lập.

Khi kết thúc cuộc trò chuyện, bà nắm tay chúng tôi, giọng nói run run: “Các con ạ, hòa bình này rất quý giá, nó được vun bồi bằng nước mắt của người mẹ, người chị, và bằng máu của các anh hùng liệt sĩ. Hãy sống sao cho chất đáng, và hãy giữ màu xanh này nhé! ”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
MẸ NGUYỄN THỊ HÒA - ÁNH ĐÈN BÊN VÕNG VÀ ĐÔI VAI GÁNH CẢ GIANG SƠN | Câu chuyện thời hoa lửa