Mẹ Nguyễn Thị Lượn
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo tại thôn Đẩu Vũ, xã Nam Hà (nay là phường Văn Đẩu, quận Kiến An) đúng vào năm đầu thế kỷ 20, mẹ Nguyễn Thị Lượn phải trải qua bao năm tháng cơ cực, lầm than của người dân mất nước. Những năm tháng tuổi thơ cũng như khi đi lấy chồng, mẹ luôn luôn đầu tắt, mặt tối, hết cày thuê lại cuốc mướn, cấy rẽ cho bọn cường hào kiếm miếng ăn mà không đủ no. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước nhà Độc lập, mẹ mừng vui đón chào cuộc sống mới. Giữa những ngày đó, niềm vui chưa trọn, ông Trần Thành Cầm - chồng mẹ qua đời để lại cho mẹ một đàn con thơ dại. Mẹ chưa kịp kiếm lưng cơm giỗ đầu chồng thì thực dân Pháp đã quay lại xâm lược nước ta. Kiến An quê hương mẹ ngày đêm chìm trong khói lửa, đạn bom của quân thù. Năm ấy, cả xóm, cả làng phải dắt díu nhau đi tản cư lánh bom, lánh đạn. Mẹ tay bế tay bồng một đàn con bốn trai, một gái sang mãi vùng Thụy Anh, Thái Bình. Ngày 25-4-1947, quân ta đã chiến đấu quyết tử với quân thù tại núi Cột Cờ. Anh Trần Thành Ngọ, chỉ huy trưởng mặt trận Hải - Kiến, là cháu trong dòng tộc và một số đồng đội đã dũng cảm hy sinh. Nhận được tin mẹ xót xa. Mẹ cùng các con lớn của mẹ tự cảm thấy như chính mình có lỗi đã bỏ quê hương để lánh nạn. Anh Trần Thành Cư, con trai lớn của mẹ lúc đó chưa đầy 20 tuổi và em trai là Trần Thành Toàn mới 16 tuổi xin mẹ về quê hương tham gia kháng chiến chống Pháp. Thương con nhưng mẹ không ngăn cản mà còn động viên các anh về quê đánh giặc. Ở nơi tản cư mẹ chạy chợ, làm thuê nuôi mấy con còn nhỏ dại. Trở về Kiến An, anh Cư vào bộ đội tỉnh, cầm súng trực tiếp đánh giặc. Anh Toàn làm giao thông của huyện. Thấy các con đã trưởng thành, biết nghe theo lời kêu gọi của Bác Hồ tham gia kháng chiến, đánh giặc, mẹ vui lắm, tự hào lắm. Mẹ luôn hướng về quê hương - nơi các con trai, con rể đang cầm súng chiến đấu giành độc lập cho Tổ quốc. Cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ngày càng gay go quyết liệt đã thôi thúc mẹ trở về Đẩu Vũ quê hương. Ngày ấy anh Vũ Đức Thạo, con rể của mẹ làm xã đội trưởng chỉ huy đội quân du kích địa phương cùng phối hợp với bộ đội trừ gian, diệt ác. Ngôi nhà tranh vách đất nhỏ bé, lụp xụp cùng với hầm bí mật do chính tay mẹ, bao đêm mò mẫm đào ngay dưới gầm giường và dưới đống rơm ở góc sân nhà, trở thành nơi đi về, che giấy cán bộ bộ đội. Biết gia đình mẹ có người tham gia kháng chiến, bọn tay sai của giặc bao lần ập tới nhà đánh đập mẹ để uy hiếp và săm hầm bí mật. Lần nào cũng vậy, mẹ thà chịu đòn roi đau đớn chứ không để cán bộ lọt vào tay giặc. Sống trong vùng tề thời loạn lạc, giặc giã hoành hành mẹ cam chịu vất vả đêm ngày. Ngày mùa mẹ đi làm thuê, ngày ba tháng tám, hết việc nhà nông, mẹ lại chạy chợ đi kiếm hạt gạo, củ khoai vừa để nuôi 2 con trai nhỏ, vừa nuôi dưỡng cán bộ trú tại hầm bí mật trong nhà. Trong gian lao vất vả, ăn đói để dành từng nắm cơm, từng củ khoai nuôi con, nuôi cán bộ kháng chiến, nhưng lòng mẹ vẫn vững niềm tin, ngày mai kháng chiến thành công, quê hương lại rợp bóng cờ đỏ sao vàng như ngày Cách mạng Tháng Tám năm nào. Ngày ngày làm lụng vất vả, đêm đêm mẹ thao thức, vừa canh phòng cho cán bộ hội họp tại nhà bàn kế đánh giặc, vừa cầu mong cho các con giết được nhiều giặc. Thế rồi vào một buổi sáng mùa đông năm ấy, mẹ nhận được tin như sét đánh: Đêm qua ngày 7-12-1950, con trai lớn của mẹ, tiểu đội trưởng Trần Thành Cư đã anh dũng hy sinh trong trận chiến đấu công đồn giặc ở Sái Nghi, bên dòng sông Đa Độ. Lòng mẹ quặn đau tê tái, nhưng mẹ cố nén không khóc thành lời. Thương tiếc con, mẹ càng lao vào làm lụng, khuyên nhủ các con nhỏ làm việc nhỏ, che chở cán bộ và động viên các con vững vàng chiến đấu giết giặc trả thù nhà, đền nợ nước. Trong khói lửa đạn bom, anh Trần Thành Toàn luôn như con thoi làm nhiệm vụ của người giao thông. Con trai thứ 3 của mẹ là Trần Thành Lãng, những năm đó còn ở tuổi nhi đồng, nhưng đã sớm tham gia hoạt động kháng chiến. Anh đóng vai trẻ mục đồng, khi đi cắt cỏ, khi câu cá, bắt cua, đào ếch, để mang cơm nắm nuôi cán bộ kháng chiến nằm vùng ngoài đồng xa. Công việc thật nguy hiểm, nhưng cứ nghĩ tới ngày toàn thắng, quê hương sạch bóng quân xâm lược, được sống trong thanh bình, trong Độc lập, tự do lòng mẹ rạo rực niềm vui thanh bình, động viên các con hăng say công tác. Người con trai đầu của mẹ hy sinh chưa đầy hai năm thì mẹ lại nhận được tin dữ. Rạng sáng hôm ấy,ngày 20-8-1952, anh Trần Thành Toàn, con thứ hai của mẹ, trên đường đi giao công văn trở về nhà đã rơi vào ổ phục kích của quân giặc. Anh dũng cảm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, quyết không để giặc bắt. Nỗi đau mất mát hy sinh đã làm cho mẹ càng thêm chai sạn. Mẹ nén đau thương, vượt lên tất cả, lao vào tăng gia sản xuất, vừa nuôi con, vừa nuôi giấu cán bộ trong nhà, dành dụm từng lon gạo đóng góp cho quân ta đánh giặc. Suốt những năm dài chống Pháp, gia đình mẹ luôn là cơ sở tin cậy của bao cán bộ kháng chiến. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Kiến An quê hương mẹ sạch bóng quân xâm lược. Mẹ lại cùng các con tích cực lao động sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Nghe lời kêu gọi của Đảng, của Bác Hồ, năm 1959, mẹ tiễn đưa người con trai thứ ba là anh Trần Thành Lãng đi xây dựng khu gang thép Thái Nguyên. Và sau đó, năm 1960 mẹ lại tiễn đưa người con trai út là anh Trần Thành Ngũ lên đường vào miền Nam chiến đấu chống Mỹ. Buổi tiễn đưa người con út lên đường nhập ngũ, nuốt nước mắt, nắm chặt tay con mẹ căn dặn: - Ngũ ơi! Con cứ yên tâm lên đường đi đánh giặc. Mẹ tuy đã bước sang tuổi 60, nhưng dẫu sao vẫn còn khỏe mạnh, vẫn còn tự thân lao động sinh sống được. Khó khăn đã có bà con xóm làng, có hợp tác xã cưu mang. Tắt lửa tối đèn đã có vợ chồng chị Vượng, anh Thạo cùng đàn cháu ngoại. Con ráng sức học tập, rèn luyện và chiến đấu trả thù cho các anh con. Không phụ công lao nuôi dưỡng, dạy dỗ của mẹ, anh Ngũ đã chiến đấu quên mình, xứng đáng với truyền thống cách mạng của gia đình, của quê hương. Vậy là cả hai con trai còn lại của mẹ đều vì dân, vì nước mà đi xa. Bao đêm trường mẹ trằn trọc mất ngủ nhớ con. Càng nhớ thương con bao nhiêu thì mẹ lại càng tham gia sản xuất giỏi, xây dựng hợp tác xã, góp phần chi viện cho tiền tuyến. Mẹ cùng các hội viên trong Hội mẹ chiến sĩ thường tới từng gia đình có con em đi chiến đấu để thăm hỏi, động viên và vận động trai trẻ lên đường nhập ngũ, đi đánh giặc, cứu nước. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc đã toàn thắng. Bắc Nam sum họp một nhà. Mẹ lúc đó đã quá tuổi 70, ngày đêm ngóng trông, chờ đợi người con trai từ chiến trường trở về. Thế nhưng con út của mẹ đã vĩnh viễn ra đi, không bao giờ trở về với mẹ được nữa. Anh đã hy sinh tại chiến trường Bình Định. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, mẹ đã hiến dâng cho Tổ quốc ba người con yêu quý. Bản thân mẹ đã hết lòng phục vụ kháng chiến, nuôi giấu cán bộ. Đảng, Nhà nước, nhân dân ta nhớ mãi công lao của mẹ và các con. Năm 1985 - đúng vào dịp mẹ thượng thọ 85 tuổi, Nhà nước đã tặng mẹ Huân chương Độc lập hạng ba. Mẹ tưởng như nước mắt đã cạn kiệt vì bao đêm khóc thầm lặng lẽ, bởi nỗi nhớ thương các con. Vậy mà khi đón nhận tấm Huân chương Độc lập - phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước thì mắt mẹ lại rưng rưng, ngấn lệ. Tháng Năm lịch sử, chúng con về thăm lại ngôi nhà xưa của mẹ, thắp nén hương thơm tưởng nhớ mẹ - Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Thưa mẹ: đất nước đổi mới, Kiến An quê mình đang trên đường phát triển to đẹp hơn. Mọi gia đình đều phấn đấu làm giàu. Các con, các cháu nội ngoại của mẹ đã và đang sống theo những lời khuyên dạy của mẹ lúc đương thời, luôn xứng đáng là những gia đình tiêu biểu, gia đình văn hóa mới.



