Bài viết

Mẹ Nguyễn Thị Ngôn

Tây Ninh02/05/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Thị Ngôn(1922 - )

Đất Thường Lang gắn với địa danh LạcAn, Tân Tịch... nằm ở bìa Chiến khu Đlịch sử, gợi lên trong tâm trí mọi người đâylà nơi xa ngái, phải trèo đèo lội suối nhọcnhằn mới tới. Nhưng thật ra từ thị xã ThủDầu Một đi lên, chỉ hơn ba chục kilômét; còn từ thành phốBiên Hòa xẹt ngang sông Đồng Nai, quãng đường rút ngắncòn nửa. Thời kháng chiến chín năm, Thường Lang là địabàn hoạt động của nhà chỉ huy quân sự lỗi lạc, nhà thơ chiếnsĩ Huỳnh Văn Nghệ. Dấu chân ông in khắp vùng, nay mọingười già còn nhớ. Đất Thường Lang - cũng như cả Chiếnkhu Đ - hứng chịu hàng trăm cuộc càn lớn nhỏ của quânPháp, bị tàn phá nhiều lần. Các ngôi nhà gỗ khang trang cháyrụi thay bằng ngôi nhà tranh, rồi thu lại thành chiếc chòi lámiễn là đủ che nắng, che mưa để mọi người đứng chân đánhgiặc tạo nên huyền thoại mờ ảo lung linh, hào quang về một“Chiến khu Đ (giặc) đi dễ khó về”.Đến thời chống Mỹ, địch đánh giá đây là mảnh đất nghịch,bất trị. Chúng mở nhiều chiến dịch chống phá cách mạng,càng không khuất phục được lòng dân Thường Lang hướngvề Đảng và Bác Hồ kính yêu. Từ năm 1962, Mỹ và tay saithực hiện “quốc sách” ấp chiến lược, chúng gom dân vàomột số điểm, nơi đây biến thành vùng trắng, tự do oanh kích.Nhiều xóm ấp từng đông vui trù phú, vẫn có tên trên bản đồquân sự Mỹ nhưng có thêm chữ abandonned (đã bỏ đi), hoặcdestroyed (đã bị phá hủy). Một số bà con qua sông Đồng Nai,tạm lánh ở xã Thiện Tân (huyện Vĩnh Cửu), trong số đó có gia đình bà Nguyễn Thị Ngôn (Ba Ngôn).Chồng mẹ là ông Nguyễn Văn Xáng, từng tham gia côngtác địa phương Thường Lang, thời chín năm chống Pháp. Saunăm 1954, ông hoạt động bí mật, bám trụ địa bàn gây dựngcơ sở, góp phần khôi phục phong trào, giải phóng quê hương.Bốn con còn nhỏ theo mẹ qua ở Thiện Tân (Vĩnh Cửu) tạmlánh bom đạn giặc. Ông cùng hai con gái lớn vào rừng chiếnđấu. Thi thoảng, ông móc nối với cán bộ và du kích hai vensông Đồng Nai, tránh những đợt tàu giặc tuần tra, về thămnhà và nhận đồ tiếp tế.Mẹ Ba Ngôn mới đầu đi làm mướn kiếm sống qua ngày,nhờ được nhiều bà con tốt giúp đỡ, mẹ thuê ruộng rồi khẩnđược một ít đất hoang nên trong nhà có lúa, có tiền. Mỗi khichồng về, mẹ đều có thứ gì đó để ông mang qua căn cứ: gạo,tiền, thuốc hút, thuốc chữa bệnh... Mẹ không quên hai con gáiđang chịu đạn bom cùng nhiều khó khăn gian khổ, hiểm nguytừng phút từng giờ, sắm cho các chị một số quần áo, đồng hồ,đôi bông tai... (ở rừng, ở bụi, nhưng con gái cũng cần điểm tôchút đỉnh chớ!). Mẹ lén đào hầm bí mật trong nhà nuôi chứamột số cán bộ, bộ đội huyện Vĩnh Cửu như các đồng chí: BaThái(1), Năm Phê(2), Tám Bảo(3)..., có lúc cũng tiếp tế cho anhem. Mẹ cho gạo vào thùng đạn đại liên, gánh ra góc ruộngxã để đó, đêm có người về lấy. Mấy đứa nhỏ của mẹ ra sứccùng trẻ con trong xóm đi lượm đạn Mỹ nhét đầy lon guigoz,trên bới lượt cơm mỏng, mang theo lúc đi chăn trâu, đi làmruộng... rồi đặt vào nơi quy ước cho du kích xã. Chị Nguyễn Thị Ốm (Ba Ốm) - con gái mẹ- được phâncông làm tổ trưởng phụ nữ Thường Lang. Từ căn cứ của xã ởLạc An về địa phương khá xa, nhưng chị thường về công tác,xây dựng phong trào trong số bà con ở lại, nhiều lần suýt dínhđịch phục kích. Đối với lứa tuổi trẻ, bom đạn giặc không hềngăn cản tình yêu; chị đã quen thân một anh bộ đội, chắc đãhứa hẹn với nhau về tương lai hạnh phúc.Chiều ngày 14/12/1967, trên đường về xã công tác, chịtrúng pháo Mỹ dập trên đồi Bà Én (Lạc An). Các người cùngđi lượm được một số mảnh thi thể chị chôn tại chỗ, về sau,mưa gió xóa mất tích. Ông Xáng giấu tin, mãi mấy tháng saumới cho mẹ hay. Sống trong lòng giặc, mẹ phải nén thươngđau, chỉ ngấm ngầm khóc ban đêm để tránh những con mắtcú vọ rình mò.Chị Nguyễn Thị Cụt (Tư Cụt) tính tình vui vẻ hoạt bát,lại thông minh, nên từ khi thoát ly được cử đi học y tá phụcvụ căn cứ xã. Chị có người yêu là Tuấn, cán bộ huyện TânUyên. Hai người đã đính hôn. Một bữa, vượt sông Đồng Naiban đêm về thăm mẹ xin phép đính hôn, chỉ một tháng nữa,sẽ có một đám cưới gọn nhẹ giữa muôn ngàn bom đạn giặctrong căn cứ Lạc An. Nhưng hoa hạnh phúc không kịp nở đãlụi tàn, chạng vạng tối 2/2/1968, đúng vào dịp tết Mậu Thân,chị Tư Cụt đi công tác lọt ổ phục kích Mỹ ở phần ruộng ôngChiêu, gần đồi Lồ Ồ và đã hy sinh. Ông Xáng lại giấu bà. Chỉtrong vòng hai tháng, mẹ Ba Ngôn mất liền hai núm ruột, đauthương chất ngất không thể giấu ai. Ông vượt sông Đồng Naivề an ủi mẹ; nhưng nhìn chồng, mẹ càng nhớ thương hai conkhôn nguôi. Hai cái tang không đốn gục được mẹ, tiếc thươngngười đã mất, nhưng còn phải lo cho những người đang sốngnữa. Mẹ Ba Ngôn lại lao vào công việc làm ăn thường ngày để có cái cho gia đình sinh sống, có cái tiếp tế cho chồng vàanh em cán bộ, bộ đội. Tám Rô bị bắt, khai ra, do đó, mẹ bịbắt hai lần: lần đầu vào năm 1971, chúng giam một tuần rồithả. Lần thứ nhì vào năm 1973, mẹ bị tù sáu tháng. Bọn điềutra ở một số nhà tù hỏi:”Chồng con đâu “ ; mẹ trả lời trướcsau như một: “Ổng đi đâu, tôi không biết. Tôi ở nhà đi làm,nuôi bốn đứa nhỏ cực lắm...” Giam chán, chúng đành phải thảcho về. Mẹ lại âm thầm làm nuôi chồng con và anh em. Có lẽvì thế, tính tình mẹ ngày càng trầm mặc ít nói.Con trai thứ chín, Nguyễn Văn Xảng (Chín Xảng) vừa lớn,được móc đi làm giao liên cho Huyện đội Vĩnh Cửu. Anh rấtgan dạ, sớm khuya được giao nhiệm vụ là đi liền, nên đượccác đồng chí thương mến. Chiều 15/5/1974, Chín Xảng cùngchị Cưỡng vào căn cứ Huyện đội Vĩnh Cửu ở đồi Bùng Binh.Mẹ Ba Ngôn thấy sau đó một lát, có tiếng nổ rất lớn trongnúi. Mẹ lo âu, đoán có chuyện chẳng lành. Trời tối, anh emtrong đó ra mời mẹ vô, Chín Xảng và chị Cưỡng hy sinh vìtrúng mìn, được an táng ngay đêm đó. Mẹ Ba Ngôn ban ngàyphải nén đau buồn, làm lụng và giao thiệp với mọi người bìnhthường. Chỉ đến đêm khuya thanh vắng, mẹ mới để nước mắttha hồ tuôn chảy (Mộ liệt sĩ Chín Xảng nay ở nghĩa tranghuyện Vĩnh Cửu).Mẹ Ba Ngôn đã được Hội đồng Nhà nước tặng Huânchương Độc lập, được địa phương quan tâm giúp đỡ. Mẹ đãhiến dâng một nửa số con cho đất nước. Nếu kể cả em ruột,cháu ruột, thì gia đình mẹ có chín liệt sĩ. Gia đình mẹ BaNgôn là gia đình chỉ đứng một phía cách mạng. Mẹ NguyễnThị Ngôn vùng Chiến khu Đ bất khuất được Nhà nước phongtặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cao quý theo Quyếtđịnh số 394/KTCTN ngày 17/12/1994.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn