MẸ NGUYỄN THỊ THÌN: TẤM BIA ĐÁ BÊN BỐT PHÙNG VÀ HÀNH TRÌNH SÁU THẬP KỶ CHỜ CON
MẸ NGUYỄN THỊ THÌN: TẤM BIA ĐÁ BÊN BỐT PHÙNG VÀ HÀNH TRÌNH SÁU THẬP KỶ CHỜ CON
Có những ngôi làng miền quê Bắc Bộ nằm nép mình bên những con sông đỏ nặng phù sa, nơi mà tiếng thoi dệt vải cứ lạch cạch vang lên qua từng mùa mưa nắng, quyện chặt lấy mùi rơm rạ nồng nàn và tiếng gà gáy trưa xao xác. Làng Hạnh Đàn, thuộc vùng Đan Phượng của tỉnh Hà Đông cũ, từng trôi qua những năm tháng thanh bình và trầm lắng như thế. Ở mảnh đất ấy, người phụ nữ nông dân Nguyễn Thị Thìn, sinh năm 1904, đã sống một cuộc đời dịu dàng và nhẫn nại bên khung cửi và những thửa ruộng xanh thì dệt nên hình bóng một mái nhà ấm áp. Mẹ dệt vải, làm ruộng, chắt chiu từng cọng rau, từng hạt gạo để nuôi bốn người con khôn lớn, chỉ mong sao các con trưởng thành trong bình yên, biết yêu thương xóm giềng và giữ trọn nếp nhà thuần hậu. Mẹ chưa từng nghĩ một ngày nào đó, bóng tối giặc giã và ngọn lửa bão táp của chiến tranh lại xé rách cái dải không gian êm đềm ấy, cuốn lấy những người con thân yêu của mẹ vào guồng quay rực lửa của lịch sử, rồi gửi trả về cho lòng mẹ những khoảng trống mênh mông không gì lấp đầy.
Những năm tháng kháng chiến chống Pháp bùng nổ, hai người con trai của mẹ lần lượt bước vào con đường hoạt động cách mạng bí mật. Người con cả Nguyễn Đạt Lư, sinh năm 1926, gạt nước mắt chia tay góc quê dệt vải để ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Ở chốn Hà Thành hoa lệ nhưng ngột ngạt bóng giặc, anh Lư chọn nghề thợ gò thiếc làm vỏ bọc cho những chuyến đi về bí mật, những buổi gặp gỡ chuyển giao tài liệu và kết nối đường dây. Giữa tiếng búa gõ lạch cách trên những tấm thiếc mỏng trong căn xưởng nhỏ rải nắng xiên, người thanh niên ấy đã nén chặt bao nỗi nhớ nhà, nhớ tiếng thoi dệt của mẹ ở làng Hạnh Đàn để dồn sức cho công việc cách mạng. Nhưng rồi giặc Pháp phát hiện và vây bắt. Năm 1949, anh Lư bị địch bắt giam và giải về Bốt Phùng – một sào huyệt khét tiếng tàn bạo của giặc ở vùng Hà Đông lúc bấy giờ. Trong xà kle, dưới những trận đòn tra tấn dã man đến điên cuồng của kẻ thù nhằm bẻ gãy ý chí người cán bộ trẻ, anh Nguyễn Đạt Lư vẫn kiên trung giữ trọn lời thề, nhất quyết không khai báo nửa lời để bảo vệ cơ sở và đồng đội. Lời nhắn gửi cuối cùng của anh được người thân xót xa ghi nhớ lại trước lúc anh hy sinh là lời động viên mọi người hãy luôn giữ vững bản lĩnh, tin tưởng vào ngày chiến thắng của dân tộc.
Tin người con cả hy sinh ở Bốt Phùng bay về làng Hạnh Đàn như một giọt nước mắt rơi xuống vỡ tan giữa lòng mẹ Thìn. Đau đớn đến xé ruột xé gan, nhưng giữa vùng đất còn nằm dưới sự kiểm soát gắt gao của quân Pháp, mẹ không thể công khai gào khóc hay rước linh cữu con về nhà chu đáo. Trong cái giá lạnh của bóng đạn quân thù, người mẹ ấy đã làm một việc tưởng như không thể: mẹ lặng lẽ cùng người bác ruột tìm đến thợ khắc đá, thuê khắc một tấm bia đá nhỏ có ghi tên tuổi và mốc thời gian của con. Mẹ giấu tấm bia ấy dưới vạt áo, cùng người thân vượt qua những trạm gác dày đặc, những ánh mắt dòm ngó hiểm nguy của giặc để đến tận nơi chôn cất anh Lư gần Bốt Phùng. Mẹ quỳ xuống trên lớp đất ẩm lạnh, tự tay đặt tấm bia đá ấy xuống bên mộ con. Mẹ hiểu rằng tấm bia không thể hồi sinh đứa con trai yêu quý, cũng không làm cơn đau trong lòng mẹ nguôi đi dù chỉ một chút, nhưng tấm bia đá ấy chính là chiếc cầu nối hy vọng mà mẹ gửi lại giữa lòng đất lạnh. Mẹ ước mong sao đến ngày đất nước hòa bình, gia đình vẫn còn một dấu vết, một ngọn hải đăng nhỏ bé để biết đường tìm đưa con trở về với tổ tiên, với mảnh đất quê hương Hạnh Đàn.
Thời gian trôi qua như bóng chim qua cửa sổ, những trận đánh tiếp nối, bão đạn chiến tranh và sự dời đổi của đất trời đã khiến vùng đất Bốt Phùng năm xưa biến dạng. Vị trí ngôi mộ cùng tấm bia đá nhỏ do chính tay mẹ Thìn cắm xuống đã bị vùi lấp dưới những tầng cây cỏ và lớp bụi thời gian. Nỗi lo đứa con trai cả vẫn còn nằm lại lạnh lẽo nơi xa nhà, không có tấm che mưa che nắng, trở thành vết thương dai dẳng gặm nhấm trái tim mẹ suốt cả phần đời còn lại. Nhưng số phận dường như chưa ngừng thử thách sức chịu đựng của người mẹ nông dân ấy. Chỉ một năm sau ngày anh Lư hy sinh, vào năm 1950, tin dữ thứ hai lại dội về gia đình.
Người con trai thứ hai của mẹ, Nguyễn Đạt Linh, khi ấy đang là Tiểu đội trưởng, đã hy sinh anh dũng trong một trận càn quét ác liệt của giặc. Câu chuyện về anh Linh trôi qua như một khúc ca buồn bồi hồi mà mỗi khi nhắc lại, người em gái út trong nhà vẫn không cầm được nước mắt. Mới hôm trước trận càn, anh Linh còn tranh thủ ghé về nhà ăn với cha mẹ một bữa cơm chiều giản dị. Bữa cơm ấy rộn rã tiếng cười vì chỉ còn chưa đầy nửa tháng nữa là đến ngày vui trọng đại của anh: ngày cưới. Mẹ Thìn đã tất bật ngược xuôi, tự tay chuẩn bị đầy đủ sính lễ, sắm sửa từng bộ quần áo mới, từng món đồ dành cho ngày vui của đứa con trai cưng. Mẹ tưởng tượng cảnh căn nhà rực rỡ cờ hoa, tiếng cười nói rộn ràng của họ hàng hai bên và nụ cười rạng rỡ của đứa con trai trong ngày rước cô dâu về làng. Thế nhưng, trận càn đột ngột của kẻ thù đã đập tan tất cả.
Trong trận càn ấy, anh Nguyễn Đạt Linh đã thể hiện một tinh thần dũng cảm phi thường. Khi giặc vây hãm gắt gao, anh đã tìm mọi cách đánh lạc hướng kẻ thù, bảo vệ và đưa những người đồng đội bị thương cùng một em liên lạc viên nhỏ tuổi xuống hầm trú ẩn an toàn. Giữ được tính mạng cho đồng đội nhưng vị trí hầm của anh bị địch phát hiện. Anh Linh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và hy sinh ngay trong lòng hầm tối. Những món đồ cưới mẹ Thìn nén đau chắt chiu chuẩn bị sẵn từ nay vĩnh viễn không còn được dùng đến, nằm phủ bụi trong góc hòm gỗ gia đình. Nỗi đau mất đứa con cả chưa kịp ráo nước mắt, mẹ Thìn lại phải đối diện với một khoảng trống mênh mông khác khi người con thứ hai ra đi khi tuổi xuân đang độ phơi phới, khi giấc mơ về một gia đình nhỏ chưa kịp đơm hoa kết trái.
Mất đi hai người con trai ruột thịt chỉ trong vòng hơn một năm ngắn ngủi, nỗi đau ấy quá lớn đối với một người mẹ nông dân bé nhỏ. Nhưng mẹ Nguyễn Thị Thìn không gục ngã. Mẹ nén gạt nước mắt, tiếp tục bám dính lấy thửa ruộng, lại ngồi bên khung cửi dệt vải, để tiếng thoi lạch cạch đều đặn vang lên như một nhịp đập kiên cường của sự sống. Căn nhà dệt vải ấy lại tiếp tục trở thành nơi đùm bọc, nuôi giấu, che chở cho những người cán bộ, những người đồng đội từng sát cánh hoạt động cùng hai con trai của mẹ. Mẹ chăm sóc họ như chăm sóc chính những đứa con của mình, gửi gắm vào họ niềm tin mãnh liệt về ngày kháng chiến thành công.
Năm tháng cứ thế lặng lẽ trôi đi, hòa bình lặp lại, đất nước thống nhất, cuộc sống đổi thay từng ngày. Nhưng trong tâm khảm của người mẹ già, bóng dáng hai đứa con trai và tấm bia đá nhỏ bên Bốt Phùng vẫn chưa bao giờ nguôi ngoai. Nỗi khắc khoải tìm lại phần mộ của anh Lư trở thành tâm nguyện cháy dồn qua nhiều thập kỷ của gia đình. Sáu mươi ba năm trôi qua kể từ ngày anh Nguyễn Đạt Lư ngã xuống – một khoảng thời gian dài hơn cả một đời người, qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc tìm kiếm tưởng chừng như vô vọng trong tuyệt vọng.
Đến năm 2012, nhờ sự kiên trì không mệt mỏi và niềm tin mẫu tử thiêng liêng thiêu đốt, hài cốt của anh Nguyễn Đạt Lư mới chính thức được gia đình tìm thấy dưới một vườn chuối xanh om ở vùng Bốt Phùng năm xưa. Tấm bia đá nhỏ năm 1949 tuy đã bị thất lạc trong lòng đất, nhưng tình thương vô bờ bến và khát vọng đón con trở về của người mẹ đã dẫn đường cho các thế hệ con cháu đưa được anh về nghỉ ngơi trong lòng nghĩa trang quê nhà Hạnh Đàn. Tháng 12 năm 2016, mẹ Nguyễn Thị Thìn vinh dự được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý: Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Hai cột mốc ấy – ngày đưa con về quê nhà và ngày nhận danh hiệu anh hùng – dẫu có đến muộn mằn so với những mất mát vô bờ mà mẹ đã chịu đựng, nhưng nó đã tạc nên một tượng đài vĩnh cửu về người mẹ Việt Nam: một lòng nhẫn nại, một lòng hy sinh, nhẫn nại đợi chờ qua hơn nửa thế kỷ chỉ để hoàn thành một tâm nguyện vô cùng giản dị – tìm được con, để con không còn phải nằm lại cô đơn nơi xa nhà.


