Bài viết

Mẹ Nguyễn Thị Thứ

Mẹ Thứ sinh năm 1904, lớn lên trên mảnh đất miền Trung đầy nắng gió. Cuộc đời mẹ gắn liền với ruộng đồng, với những sớm khuya tảo tần, với tiếng giã gạo, tiếng bếp lửa ấm hơi mẹ. Tưởng chừng như cuộc sống của mẹ sẽ trôi qua bình yên như bao người phụ nữ quê khác: lấy chồng, sinh con, chăm lo ruộng vườn. Thế nhưng, chính từ cuộc đời lam lũ ấy, nghị lực và tấm lòng yêu nước của mẹ được vun bồi. Mẹ hiểu nỗi khổ của người dân mất nước, hiểu nỗi cực của thân phận bị áp bức, vì vậy mẹ luôn vun đắp tro

Đà Nẵng29/11/2025CHI ĐOÀN TIỂU HỌC HÒA KHƯƠNG (xã hòa tiến)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong hàng ngàn trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam, có những trang không được viết bằng mực mà bằng nước mắt, bằng sự hy sinh vô bờ của những người mẹ tiễn con ra trận. Họ không cầm súng, nhưng trái tim họ luôn hướng về Tổ quốc; họ không bước trên chiến trường, nhưng nỗi đau mất mát của họ lớn hơn bất kỳ vết thương nào. Trong số những người mẹ ấy, Mẹ Nguyễn Thị Thứ, quê ở Quảng Nam, nổi lên như một biểu tượng thiêng liêng của đức hy sinh và lòng yêu nước. Câu chuyện cuộc đời mẹ không chỉ là nỗi đau của một gia đình mà là bản anh hùng ca lặng lẽ của cả dân tộc Việt Nam thời chiến.

Mẹ Thứ sinh năm 1904, lớn lên trên mảnh đất miền Trung đầy nắng gió. Cuộc đời mẹ gắn liền với ruộng đồng, với những sớm khuya tảo tần, với tiếng giã gạo, tiếng bếp lửa ấm hơi mẹ. Tưởng chừng như cuộc sống của mẹ sẽ trôi qua bình yên như bao người phụ nữ quê khác: lấy chồng, sinh con, chăm lo ruộng vườn.

Thế nhưng, chính từ cuộc đời lam lũ ấy, nghị lực và tấm lòng yêu nước của mẹ được vun bồi. Mẹ hiểu nỗi khổ của người dân mất nước, hiểu nỗi cực của thân phận bị áp bức, vì vậy mẹ luôn vun đắp trong con cái tinh thần kiên cường và lý tưởng sống vì quê hương.

Năm này qua năm khác, những tin dữ từ chiến trường dội về. Người con trai cả gục ngã, rồi đến người con thứ, rồi người con út. Không chỉ con, mẹ còn mất con rể, mất những đứa cháu ngoại bé bỏng – những mầm xanh của gia đình. Chỉ trong một thời gian dài đầy khói bom, mẹ phải hứng chịu 12 mất mát lớn – 12 sinh mạng ruột thịt đã hòa vào đất mẹ.

Mỗi lần nhận giấy báo tử, mẹ chỉ lặng im thật lâu. Không ai thấy mẹ khóc òa, không ai nghe mẹ than thân trách phận. Mẹ chỉ thắp nén nhang và khẽ nói:
“Các con đi thanh thản… Mẹ giữ nhà, giữ đất cho.”

Nỗi đau ấy, nếu gọi bằng lời thì quá nhỏ. Nhưng trong sự bình thản của mẹ, người ta thấy cả một trời chịu đựng, cả một bờ vai gánh trọn đau thương của dân tộc. Dù chịu nhiều mất mát, mẹ Thứ không để nỗi đau kéo mình lùi lại. Mẹ tiếp tục sống nhân hậu, hiền từ, là chỗ dựa tinh thần cho bà con lối xóm trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. Sau ngày đất nước hoà bình, mẹ sống những năm cuối đời trong vòng tay yêu thương của nhân dân và quê hương. Danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng được trao cho mẹ như một lời tri ân của cả dân tộc. Hình tượng của mẹ trở thành cảm hứng của thơ ca, nhạc họa và đặc biệt được khắc họa trang nghiêm trong công trình Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng – một công trình quy mô lớn dành để tôn vinh mẹ và những người mẹ Việt Nam thời chiến. Tượng mẹ uy nghi giữa đất trời Quảng Nam, nhưng ánh mắt vẫn hiền hòa như chính tấm lòng bao dung và vĩ đại của mẹ trong cuộc đời thật.

Cuộc đời của Mẹ Thứ là một bản trường ca bất tử về lòng yêu nước, đức hy sinh và phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Từ người mẹ lam lũ nơi làng quê, mẹ trở thành biểu tượng thiêng liêng của sức mạnh tinh thần dân tộc. Mẹ đã hiến dâng cho Tổ quốc những điều quý giá nhất của đời mình, để hôm nay chúng ta được sống trong hòa bình và tự do.

Nhắc đến mẹ là nhắc đến lòng biết ơn, nhắc đến trách nhiệm giữ gìn thành quả của thế hệ đi trước. Mẹ Thứ không chỉ là mẹ của 12 người con đã chiến đấu vì nước, mà còn là người mẹ của cả dân tộc Việt Nam – một biểu tượng bất diệt của thời đại.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn