Mẹ Nguyễn Thị Thu
Khi đọc và tìm hiểu về chiến tranh, có những câu chuyện khiến tôi day dứt mãi. Một trong số đó là ký ức 81 ngày đêm của bà Nguyễn Thị Thu, một nữ du kích năm xưa đã chèo đò đưa bộ đội vượt sông Thạch Hãn trong mùa hè đỏ lửa 1972. Dù chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng với bà, tiếng bom đạn, tiếng kêu “mẹ ơi” của những người lính trẻ vẫn vang vọng trong từng giấc ngủ.
Mỗi lần nghe bà kể, tôi tưởng như mình nhìn thấy cả một Quảng Trị cuối tháng 10 mưa trắng trời. Nước lũ đục ngầu cuồn cuộn trên dòng Thạch Hãn, còn trên cao thì bom đạn trút xuống không ngừng. Trong khung cảnh khốc liệt ấy, những người lính, những người dân như bà Thu đã đổ biết bao máu, mồ hôi và nước mắt để bảo vệ từng tấc đất thành cổ.
Năm đó, bà Thu mới 17 tuổi – cái tuổi mà chúng tôi bây giờ chỉ biết đến sách vở, còn bà thì trở thành du kích, ngày đêm phục vụ chiến trường. Bà còn đang dở dang chuyện tình với ông Nguyễn Câu, chàng trai bằng tuổi mình. Hai người mới chỉ làm lễ dạm ngõ đơn sơ, chưa kịp cưới thì chiến sự nổ ra. Ông Câu lên đường vào miền Nam, còn bà Thu ở lại cùng bố chồng chèo đò đưa bộ đội vượt sông.
Bà Thu kể rằng suốt chiến dịch, chiếc đò bé nhỏ của bà đã đưa hàng ngàn chiến sĩ sang bờ bên kia. Họ đều trẻ lắm – mới 18, đôi mươi, phần lớn là sinh viên từ các trường đại học ngoài Hà Nội. Họ rời giảng đường chưa lâu đã khoác ba lô, cầm súng vào chiến trường.
“Đi nhiều… mà ít ai trở về” – câu nói của bà khiến tôi nghẹn lại. Di chứng bom đạn khiến bà giờ nhớ nhớ quên quên, nhưng những tiếng rên la thất thanh, tiếng gọi mẹ trong đêm tối thì không bao giờ phai trong ký ức. Có những chuyến đò bà biết rằng người lính bước lên rồi sẽ không bao giờ quay lại.
Chiếc đò nhỏ của bố con bà Thu ngày ấy chính là con đường sống còn giúp các mũi quân tiếp cận Thành cổ Quảng Trị. Chính từ những chuyến đò thấm đầy máu, nước mắt và cả hi vọng ấy mà biết bao người lính đã tiến vào trận địa, viết nên những trang sử bi hùng.
Mỗi lần học lịch sử hay nghe kể lại những câu chuyện như vậy, tôi – một học sinh lớp 10D trường THPT Khoái Châu – lại thấy biết ơn hơn những con người bình dị mà vĩ đại như bà Thu. Họ đã sống, chiến đấu, hy sinh thầm lặng để thế hệ chúng tôi hôm nay được sống trong hòa bình.



