Mẹ Việt Nam Anh hùng

MẸ NGUYỄN THỊ THỨ - ĐH YK10B

MẸ NGUYỄN THỊ THỨ – BIỂU TƯỢNG VĨNH HẰNG CỦA MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

Đà Nẵng28/04/2026Chi đoàn YK10B (Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lịch sử không chỉ được viết bằng những chiến công vang dội nơi tiền tuyến, mà còn được dệt nên từ những nỗi đau và sự hy sinh thầm lặng phía sau lũy tre làng. Có những người phụ nữ mà cuộc đời họ đã trở thành một phần máu thịt của giang sơn, nơi nỗi đau mất mát không làm họ gục ngã mà trái lại, càng tôi luyện nên ý chí sắt đá. Trong dòng chảy lịch sử đầy đau thương và hào hùng đó, mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ hiện lên như một biểu tượng cao đẹp và thiêng liêng nhất nơi hội tụ trọn vẹn lòng yêu nước, đức hy sinh và tình mẫu tử bao la.

Mẹ sinh năm 1904 tại xóm Rừng, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nơi mảnh đất miền Trung nắng gió kiên cường và giàu truyền thống cách mạng. Trải qua hơn một thế kỷ sống giữa bao biến động, mẹ đã trực tiếp gánh chịu những vết thương khốc liệt nhất của chiến tranh. Ngày 10/12/2010, mẹ qua đời ở tuổi 106 tại Đà Nẵng, khép lại một hành trình nhân thế dài lâu, đầy rẫy khổ đau nhưng cũng vô cùng vĩ đại.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, mẹ Thứ cùng gia đình kiên cường bám trụ tại quê nhà, vừa lao động sản xuất, vừa bí mật nuôi giấu cán bộ cách mạng. Ngôi nhà của mẹ với khu vườn rộng đã trở thành một “pháo đài” thầm lặng, nơi có đến năm căn hầm bí mật được ngụy trang tinh vi bằng cây cối, cỏ dại và đàn bò. Hằng đêm, ngọn đèn trên bàn thờ nhà mẹ vẫn bền bỉ thắp sáng, đó không chỉ là nén tâm nhang mà còn là ám hiệu an toàn dẫn lối cho cán bộ, du kích về hoạt động. Bằng sự mưu trí của một người mẹ tảo tần, khi yên ổn mẹ hé cửa hầm cho người dưới dễ thở, khi có động mẹ lại vờ chăn bò để ngụy trang, che mắt quân thù. Hàng trăm chiến sĩ đã được chở che dưới bàn tay sần sùi của mẹ, tạo nên một sức mạnh hậu phương vững chãi cho cuộc chiến giành độc lập.

Thế nhưng, điều khiến tên tuổi của mẹ trở thành bất tử trong lòng dân tộc không chỉ sự hy sinh ấy mà còn những nỗi đau không gì sánh được mà mẹ đã phải gánh chịu. Ngôi nhà từng đầm ấm với mười một người con trai và một người con gái, nay chỉ còn lại những khoảng trống mênh mông trên bàn thờ. Chín người con trai của mẹ đã lần lượt ngã xuống nhưng nỗi đau ấy còn chồng chất hơn khi con rể và hai cháu ngoại cũng hy sinh, nâng tổng số liệt sĩ trong gia đình lên con số mười hai. Những mất mát ấy đến dồn dập và tàn nhẫn như thác lũ. Ngày 18-6-1948, người con Lê Tự Xuyến là một chiến sĩ giao liên đã bị địch bắn hy sinh ngay đầu làng. Chỉ một thời gian ngắn sau, ngày 5-10-1948, con trai Lê Tự Hàn Anh ngã xuống khi đang làm nhiệm vụ tải thương; khoảng mười ngày sau đó, Lê Tự Hàn tiếp tục hy sinh trong một trận càn ác liệt. Đến tháng 4-1954, người con Lê Tự Lem, vừa tròn 20 tuổi, đã nằm lại chiến trường. Chỉ trong vòng sáu năm, mẹ phải chịu cảnh người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, nỗi đau dồn dập tưởng chừng không thể chịu đựng nổi. Nhưng chiến tranh không vì thế mà ngừng cướp đi những người thân yêu của mẹ. Tháng 9-1966, con trai Lê Tự Nự hy sinh. Năm 1972, hai người con Lê Tự Mười và Lê Tự Trịnh tiếp tục ngã xuống. Năm 1974, Lê Tự Thịnh, đại đội trưởng bộ đội huyện Duy Xuyên hy sinh khi chỉ huy đơn vị chiến đấu. Và đau đớn hơn cả, người con cả Lê Tự Chuyển, chiến sĩ biệt động Sài Gòn đã ngã xuống tại cầu Rạch Chiếc vào đúng 9 giờ sáng ngày 30/4/1975. Chỉ vài giờ trước khi đất nước hoàn toàn thống nhất, khi hòa bình chỉ còn cách một tầm tay, mẹ lại thêm một lần rỉ máu bởi sự hy sinh ngay ngưỡng cửa vinh quang. Không dừng lại ở đó, con rể của mẹ là Ngô Tường tham gia cách mạng từ thời chống Pháp, bị địch bắt năm 1956 và cũng anh dũng hy sinh sau những trận tra tấn dã man; hai cháu ngoại của mẹ là Ngô Thị Điểu hy sinh vào tháng 8-1970 và Ngô Thị Cúc hy sinh năm 1973 khi làm nhiệm vụ trong vùng địch hậu. Tất cả những mất mát ấy đã tạo nên một nỗi đau chồng chất kéo dài suốt cuộc đời mẹ.

Song cách mẹ đối diện với chúng lại khiến người đời vô cùng cảm phục. Trước mỗi tờ giấy báo tử, mẹ không gục ngã mà lặng lẽ nén đau thương, tiếp tục động viên những người con còn lại ra trận. Khi một nhà báo nước ngoài hỏi vì sao mẹ vẫn có thể làm như vậy, mẹ điềm tĩnh trả lời rằng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Lời nói giản dị nhưng đầy sức nặng ấy đã trở thành biểu tượng cho ý chí và niềm tin của cả một thế hệ người Việt Nam. Ghi nhận công lao trời biển ấy, ngày 17-12-1994, mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng trong đợt đầu tiên. Đặc biệt, hình ảnh của mẹ đã được chọn làm nguyên mẫu để xây dựng Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng, công trình được khởi công năm 2009 tại núi Cấm, thành phố Tam Kỳ và hoàn thành vào năm 2015. Đây là tượng đài lớn nhất cả nước về đề tài này, không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là biểu tượng tinh thần, thể hiện lòng tri ân sâu sắc của dân tộc đối với những người mẹ đã hiến dâng những điều quý giá nhất cho đất nước.

Theo dòng hồi tưởng của người thân, đặc biệt là của bà Lê Thị Trị, người con gái duy nhất của mẹ, hình ảnh Mẹ Nguyễn Thị Thứ hiện lên vừa gần gũi, vừa thấm đẫm nỗi đau. Khi mẹ còn sống, mỗi dịp giỗ chạp, Tết Nguyên đán hay ngày thương binh liệt sĩ, mẹ lại lặng lẽ chống gậy đến trước bàn thờ, thắp chín nén hương, bày chín bát cơm, chín đôi đũa như để gọi những người con đã khuất trở về sum họp. Có những đêm trong cơn mê, mẹ như thấy các con trở lại, giật mình tỉnh giấc với đôi mắt nhòa lệ, rồi lại run run thắp hương, gọi tên từng đứa con yêu quý. Hình ảnh ấy không chỉ là nỗi đau của riêng một người mẹ, mà còn là nỗi đau chung của cả một dân tộc đã đi qua chiến tranh. Nỗi đau ấy đã đi vào thi ca, âm nhạc, trở thành những thanh âm ám ảnh, như trong thơ của Lê Anh Dũng hay ca khúc “Người mẹ Quảng Nam” của Doãn Nho, nơi “chín bát hương” trở thành biểu tượng của “chín khúc ruột tái tê”.

Không gian sống những năm cuối đời của mẹ cũng chất chứa biết bao xúc cảm. Mẹ nằm trên chiếc giường nhỏ nơi góc nhà, xung quanh là những bàn thờ của các con, phần lớn căn nhà dường như dành để tưởng niệm. Chiếc xe lăn vắng bóng dáng mẹ, chỉ còn lại làn khói hương bảng lảng như nối liền quá khứ và hiện tại, dường như lúc nào cũng hiện hữu hình bóng những người con đã nằm lại nơi chiến trường xa xôi. Và không chỉ những người con ruột thịt, mà tất cả những người con của đất nước hôm nay đều tìm về bên mẹ, được nắm tay mẹ, được gọi hai tiếng “mẹ ơi” thiêng liêng. Bởi lẽ, mẹ không còn là của riêng một gia đình, mà đã trở thành người mẹ chung của cả dân tộc. Câu chuyện về mẹ vì thế mang ý nghĩa vượt lên trên một số phận cá nhân. Không chỉ là dòng lịch sử của một gia đình chịu nhiều mất mát, mà là biểu tượng cho hàng vạn Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên khắp mọi miền đất nước. Hình ảnh mẹ được khắc họa trong Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng chính là lời tri ân sâu sắc mà dân tộc dành cho những người mẹ đã hiến dâng những gì quý giá nhất cho Tổ quốc.

Đối với thế hệ trẻ hôm nay, câu chuyện về mẹ Nguyễn Thị Thứ là một lời nhắc nhở sâu sắc và đầy xúc động. Giữa cuộc sống hòa bình, khi không còn tiếng bom đạn, chúng ta càng phải biết trân trọng những gì mình đang có, biết ơn những hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước. Sống có trách nhiệm, có lý tưởng, không ngừng học tập và cống hiến chính là cách thiết thực nhất để xứng đáng với những mất mát ấy. Mẹ Nguyễn Thị Thứ sẽ mãi là tượng đài bất tử, không chỉ của một thời “hoa lửa”, mà còn là ngọn lửa soi sáng cho các thế hệ mai sau trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn