Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Mẹ Nhuệ

Đà Nẵng30/04/2026Lê Quang Đức (xã Xuân Phú)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mẹ Nhuệ sinh ra và lớn lên ở một làng quê dày truyền thống cách mạng, đó là làng Phú Trạch, xã Quế Xuân 2, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Năm 24 tuổi mẹ kết duyên cùng ông Trần Giang người làng Mông Nghệ, nay là xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, cũng là nơi có phong trào cách mạng từ những năm 1930. Mẹ về làm dâu trong gia đình cố nông không có một tấc đất cắm dùi. Chồng mẹ suốt ngày này qua ngày khác chỉ biết đi làm thuê ở mướng cho những người giàu có trong làng, để kiếm tiền, kiếm gạo nuôi sống gia đình. Còn mẹ suốt ngày lặn lội nơi khe suối để bắt từng con tôm, com tép đem ra chợ bán. Những ngày không đi khe suối thì lên rừng đào cây dúi dẻ chặt phơi khô mang ra chợ bán kiếm tiền. Tuy cuộc sống vất vả khổ cực bần cùng nhưng bà đã sinh được 04 người con trai nuôi dạy khôn lớn. Đến năm 1965 mẹ động viên đưa cả 04 người con lên đường đánh giặt và đã hy sinh 03 người, còn 01 người địch bắt cầm tù cho đến ngày 30/4/1975 mới được giải phóng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp mẹ Nhuệ đảm đang nuôi dạy con cháu, động viên chồng thường xuyên ra trận phục vụ chiến trường, hết 3 tháng gánh gạo tai thương ở chiến trường hạ Lào thì đến chiến trường Nam Thiên, Hòn Bằng, Bà Rén ông đều có mặt.

Năm 1954 cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, đất nước tạm thời chia cắt 2 miền. Miền Bắc do Đảng lãnh đạo, nhân dân tự do làm ăn nông dân làm chủ ruộng đồng. Miền Nam đế quốc Mỹ đưa tên tay sai Ngô Đình Diệm làm tổng thống, kéo lưỡi lê máy chém đi khắp trời Nam chém giết những người kháng chiến cũ, quê hương chìm trong máu lửa bởi Luật số 10 năm 1959 của Ngô Đình Diệm. Một số cán bộ cốt cán của Đảng được phân công ở lại miền Nam như Ngô Tuận, Hà Đông, Ngô Thanh Quyền, Lê Quang Tập để hoạt động, nhen nhóm gìn giữ phong trào được mẹ Nhuệ nuôi giấu che chở suốt từ năm 1957 đến 1964. Năm 1965 quê hương của mẹ được giải phóng lòng mẹ như mở cờ, ruộng đất được cách mạng chia cho để vợ chồng cày cấy làm ăn, nhưng tình hình mỗi ngày càng xấu hơn. Năm 1967 Mỹ đổ quân xuống bãi cát Mông Nghệ, tiếp sức cho bọn Ngụy quân Ngụy quyền tiến hành đánh nát làng quê, xây dựng căn cứ Núi Quế thành một khu quân sự khổng lồ có bãi để xe cơ giới, có sân bay dã chiến, có trận địa pháo 12 khẩu, Bộ chỉ huy quân sự tiền phương sư đoàn American, lính thủy đánh bộ Mỹ đồn trú tại đây ngày đêm, chúng đưa quân có xe tăng hỗ trợ tiến hành đánh nát vùng giải phóng các xã chung quanh căn cứ núi Quế như Phú Phong, Phú Hiệp, Phú Hương, Phú Diên,… Từ một làng quê yên bình của vùng giải phóng trở thành làng quê đổ nát tang hoang, bom đạn của Mỹ cày xới gây ra cho ta rất nhiều khó khăn. Từ hoạt động công khai động viên rộn rã, từ đây cán bộ du kích phải đi vào hoạt động nửa bí mật, nửa công khai. Một lần nữa mẹ Nhuệ phải tiến hành đào công sự để nuôi giấu cán bộ và du kích. Từ ngoài vườn đến trong hầm núp pháo của mẹ đều có hầm bí mật. Đặc biệt từ năm 1965 – 1966 mẹ nuôi các đồng chí lãnh đạo Ban tuyên huấn Quảng Đà. Đến ngày 12/2/1971, bọn chỉ điểm mách báo cho bọn lính đóng tại Gò Da. Chúng vào bắt mẹ đánh đập tra tấn, đổ nước ớt, xà bông nhưng mẹ vẫn giữ tròn khí tiếc, không khai một lời. Đến 15 giờ chiều ngày hôm ấy sau những đòn đánh cực hiểm của bọn lính tim mẹ ngừng đập, mẹ đã trút hơi thở cuối cùng tại cây mít sau hè để lại niềm tiếc thương vô hạn cho chồng con, cho anh em đồng chí cho đồng bào quê hương của mẹ.

Mẹ ngã xuống như một bài thơ cho quê hương của mẹ từng giờ đổi thay. Do những cống hiến to lớn của mẹ đã được Nhà nước công nhận là liệt sỹ, truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, Huân chương khánh chiến chống Mỹ hạng 3, Huân chương độc lập hạng 3.

Đến nay đã 43 năm kể từ ngày mẹ ra đi, chúng tôi là những người đã được mẹ che chở hiện đang còn sống ngồi đây ghi lại những dòng hồi ức, nhớ lại những nghĩa cử cao đẹp của người mẹ đó là cả tháng trời giặc càng, giặt ráp, giặc vây chúng tôi phải nằm dưới lòng đất, mẹ dở nắp hầm tiếp tế cho chúng tôi từ nắm cơm, đọn khoai trộn với muối mè, từ bát khoai chà thơm lựng, từ đòn bánh tét của Tết Mậu Thân để chúng tôi được sống, hoạt động bám trụ cùng với nhân dân trong những ngày chiến tranh ác liệt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Mẹ Nhuệ | Câu chuyện thời hoa lửa