MẸ SUỐT - HUYỀN THOẠI MÁI CHÈO VIỆT NAM
MẸ SUỐT - HUYỀN THOẠI MÁI CHÈO VIỆT NAM
MẸ SUỐT - HUYỀN THOẠI MÁI CHÈO VIỆT NAM
Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc Việt Nam, hình ảnh những người mẹ anh hùng luôn tỏa sáng như những vì sao lặng lẽ nhưng bền bỉ trên bầu trời Tổ quốc. Một trong những biểu tượng đẹp đẽ và xúc động nhất của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước chính là mẹ Nguyễn Thị Suốt. Cuộc đời mẹ Suốt là bản anh hùng ca giản dị mà vĩ đại, là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của lòng yêu nước, của đức hy sinh cao cả và tinh thần bất khuất của người phụ nữ Việt Nam. Hình ảnh mái chèo nhỏ bé giữa dòng sông lửa đạn không chỉ in sâu vào ký ức lịch sử dân tộc mà còn trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho lí tưởng sống của thế hệ trẻ hôm nay.
Mẹ Nguyễn Thị Suốt sinh năm 1906 (có nguồn thông tin mẹ sinh năm 1908) tại xã Bảo Ninh, thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình – mảnh đất miền Trung đầy nắng gió, đây cũng là nơi phải chịu nhiều đau thương trong chiến tranh. Xuất thân trong một gia đình lao động nghèo, mẹ gắn bó cả cuộc đời với nghề chài lưới trên dòng sông Nhật Lệ. Cuộc sống của mẹ vốn bình dị như bao người phụ nữ nông dân khác: lam lũ, tảo tần, sớm hôm vất vả mưu sinh, thuở nhỏ đã phải đi ở đợ suốt 18 năm. Sau Cách mạng Tháng Tám, bà mới lấy chồng, làm nghề chèo đò kiếm sống.
Năm 1964, sau Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, Mỹ bắt đầu đem quân đánh phá miền Bắc. Miền đất Quảng Bình là một trong những tuyến lửa trọng điểm đánh phá của máy bay và hải quân Mỹ, với mục đích nhằm ngăn chặn việc chi viện của miền Bắc cho lực lượng cách mạng miền Nam. Lúc đó, mẹ đã 58 tuổi nhưng vẫn xung phong nhận công việc chèo đò chở cán bộ, thương binh và vũ khí qua sông, giữ vững thông tin liên lạc giữa hai bờ. Kể từ đó, trong suốt những năm 1964 - 1966, mẹ vẫn giữ vững nhiệm vụ của mình, đã chèo hàng trăm lượt ngay cả những lúc máy bay Mỹ ném bom oanh tạc ác liệt. Mẹ được những người cán bộ và bà con gọi với tên quen thuộc Mẹ Suốt. Tổng cộng ước tính mỗi năm mẹ Suốt qua lại đến 1400 chuyến đò.
Mỗi chuyến đò của mẹ là một lần đối mặt với cái chết. Bom có thể rơi bất cứ lúc nào, nước sông có thể cuộn lên dữ dội, nhưng mái chèo của mẹ vẫn đều đặn khua sóng. Mẹ không quản ngại hiểm nguy, không hề do dự trước tiếng bom gầm, đạn xéo. Có lần đò vừa cập bến thì bom nổ phía sau; có khi mảnh đạn xé nước ngay sát mạn thuyền. Vậy mà mẹ vẫn bình thản, vẫn vững tay chèo, miệng động viên bộ đội giữ vững miền tin để chiến đấu.
Vẻ đẹp anh hùng của mẹ Nguyễn Thị Suốt là vẻ đẹp của lòng yêu nước sâu sắc. Mẹ không trực tiếp cầm súng chiến đấu nơi tiền tuyến, nhưng con đò của mẹ chính là một chiến hào đặc biệt. Mỗi chuyến đò thành công là góp phần bảo đảm mạch máu giao thông không bị đứt đoạn, là góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Ở mẹ, lòng yêu nước không phải là điều gì lớn lao, xa vời mà thể hiện qua hành động cụ thể, qua sự dấn thân thầm lặng mỗi ngày.
Bên cạnh đó, mẹ còn là hiện thân của đức hy sinh cao cả. Ở tuổi đáng lẽ được nghỉ ngơi bên con cháu, mẹ lại chọn đứng giữa lằn ranh sinh tử. Khoảng 1967-1968, khi chiến tranh trở nên càng ác liệt, mẹ đã dừng công việc lái đò, để tham gia vận chuyển lương thực. Trong một lần đi ở bến đò Bảo Ninh sơ tán ở phía nam cách bến đò cũ 3 km, mẹ Nguyễn Thị Suốt đã hy sinh trong một trận bom bi oanh tạc của Mỹ. Có nhiều thông tin về ngày mất, song trên bia mộ của mẹ, hiện đang được an táng tại Nghĩa trang thôn Cửa Phú, xã Bảo Ninh (nay được sáp nhập, thuộc tổ dân phố Sa Động, phường Đồng Hới), có ghi ngày mất là ngày 22 tháng 8 năm 1968 (tuy nhiên đây rất có thể là ngày âm lịch theo phong tục, tức ngày 13 tháng 10 năm 1968 dương lịch). Sự ra đi của mẹ khiến bao người nghẹn ngào, nhưng cũng đã làm sáng ngời thêm phẩm chất anh hùng của người phụ nữ Việt Nam. Trong Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc năm 1966 tổ chức ở miền Bắc, mẹ Suốt được mời tham dự. Ngày 1 tháng 1 năm 1967, mẹ được phong tặng danh hiệu Anh hùng ngành Giao thông vận tải trong chống Mỹ cứu nước. Đây là phần thưởng xứng đáng cho một cuộc đời cống hiến trọn vẹn của mẹ.
Cả cuộc đời đi qua những thương đau cùng đất nước, điều làm nên sức sống lâu bền của hình tượng mẹ Suốt chính là sự kết hợp hài hòa giữa cái bình dị và cái vĩ đại. Mẹ không phải là vị tướng ngoài chiến trường bắn ngàn đài pháo mà chỉ là một người lái đò thầm lặng, chiến trường của mẹ là dòng sông khói lửa, một mái chèo vượt ngàn núi bom đưa Tổ quốc đến với ánh sáng của hòa bình hôm nay. Chính sự bình dị ấy khiến hình ảnh của mẹ trở nên gần gũi, chân thực và càng cảm động sâu sắc trong lòng dân tộc. Từ mái chèo mộc mạc, mẹ đã viết nên bản anh hùng ca bằng chính mồ hôi, nước mắt và cả máu của mình. Tháng 11 năm 1965, nhà thơ Tố Hữu, lúc đó là Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, đến Đồng Hới, Quảng Bình. Sau khi nói chuyện với mẹ Suốt, nhà thơ đã sáng tác bài thơ nổi tiếng mang tên Mẹ Suốt. Ngay sau khi ra đời, bài thơ được đăng trên Báo Nhân dân và đã trở nên quen thuộc với công chúng, đặc biệt với hình ảnh bà mẹ Nguyễn Thị Suốt bình dị mà anh hùng.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, mẹ Nguyễn Thị Suốt là một tấm gương sáng về lý tưởng sống. Trong thời bình, chúng ta không còn phải đối mặt với bom rơi đạn nổ, nhưng cuộc sống vẫn đầy rẫy những thử thách. Tinh thần dũng cảm và ý chí kiên cường của mẹ luôn nhắc nhở người trẻ không được chùn bước trước khó khăn. Nếu mẹ ở tuổi sáu mươi vẫn có thể hiên ngang giữa khói lửa, thì thế hệ trẻ càng phải mạnh mẽ hơn trong học tập, lao động và rèn luyện để cống hiến sức mình cho sự phát triển của đất nước.
Năm 1980, Ủy ban Nhân dân thị xã Đồng Hới đã cho dựng bia đài Mẹ Suốt nằm giữa trung tâm bến đò. Tượng đài mẹ Suốt bên bờ sông Nhật Lệ vẫn hiên ngang nhìn ra dòng nước như nhắc nhở bao thế hệ về một thời hoa lửa. Hình ảnh ấy không chỉ là biểu tượng của Quảng Bình mà còn là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam. Dù thời gian có trôi qua, câu chuyện về người mẹ anh hùng vẫn mãi vang vọng, bất tử cùng thời gian như tiếng mái chèo khua sóng giữa đêm dài lịch sử.
Có thể nói, cuộc đời của mẹ Nguyễn Thị Suốt là minh chứng hùng hồn cho chân lý: từ những con người bình dị nhất vẫn có thể tỏa sáng vẻ đẹp anh hùng khi Tổ quốc cần. Mẹ đã sống một cuộc đời trọn nghĩa, trọn tình với quê hương, để lại cho hậu thế một di sản tinh thần vô giá. Đối với thế hệ trẻ hôm nay và mai sau, hình ảnh mẹ sẽ mãi là ngọn lửa thiêng hun đúc lòng yêu nước, ý chí vươn lên và khát vọng cống hiến cho đất nước Việt Nam thân yêu.



