MẸ THỨ
Trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta, đã có không ít những người anh hùng hi sinh, bỏ lại cả tương lai, máu xương của mình để dựng xây nên đất nước. Sự hi sinh của họ quả là đáng kính, là minh chứng rõ ràng cho tinh thần yêu nước đã in sâu vào dòng máu của con cháu đất Việt. Tuy nhiên, rời xa những chiến trường đầy khốc liệt, ở nơi những hậu phương đang ngày đêm sản xuất để hỗ trợ cho tiền tuyến, ta cũng có thể thấy được những sự hi sinh to lớn, và những nỗi đau đến xé lòng. Đó là nỗi
Trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta, đã có không ít những người anh hùng hi sinh, bỏ lại cả tương lai, máu xương của mình để dựng xây nên đất nước. Sự hi sinh của họ quả là đáng kính, là minh chứng rõ ràng cho tinh thần yêu nước đã in sâu vào dòng máu của con cháu đất Việt. Tuy nhiên, rời xa những chiến trường đầy khốc liệt, ở nơi những hậu phương đang ngày đêm sản xuất để hỗ trợ cho tiền tuyến, ta cũng có thể thấy được những sự hi sinh to lớn, và những nỗi đau đến xé lòng. Đó là nỗi đau của một người con mất cha, của người vợ mất chồng, và có lẽ là đau đớn nhất, của một người mẹ mất con. Và có lẽ, không ai thấu hiểu nỗi đau này rõ hơn một bà mẹ Việt Nam anh hùng, một người mẹ đã nhận giấy báo tử của cả chín người con trai của mình, Mẹ Thứ.
Mẹ Thứ, sinh vào khoảng những năm 1902, 1904, mất năm 2010. Bà sinh tại xóm Rừng, thôn Thanh Quýt, xã Điện thắng, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam hay nay là Thành Phố Đà Nẵng. Bà là một con người giản dị, đơn sơ với căn nhà nhỏ yên bình. Và cũng có thể thấy, bà không phải là một người lính, một con người sẵn sàng xông pha ra chiến trường. Trái lại, sự cống hiến của bà chính là ở sự hi sinh của một người mẹ, của một con người hết lòng vì kháng chiến. Bà có thể không thể cầm súng chiến đấu, nhưng bà cùng con gái đã sẵn sàng bám trụ xóm làng, vừa lao động, vừa đào hầm bảo vệ các chiến sĩ. Bà cũng có những cách thức rất sáng tạo để có thể đảm bảo an toàn cho họ. Ở trên các hầm trú ẩn, bà nuôi bò, trồng nhiều cây, cỏ giúp ngụy trang cho những chiếc hầm. Về đêm, Mẹ để ngọn đèn sáng trên bàn thờ để ra ám hiệu cho các chiến sĩ. Chính nhờ sự giúp đỡ, chở che của Mẹ mà rất nhiều những anh bộ đội cụ Hồ đã được chăm sóc vô cùng chu đáo.
Hơn hết cả, sự hi sinh của Mẹ không chỉ dừng lại ở những cống hiến trong việc che chở bộ đội, mà mỗi khi nhắc đến Mẹ Thứ, người ta lại không khỏi xót xa trước những người con của bà mà giờ đây đã trở thành những liệt sĩ trong quá trình giải phóng đất nước. Mẹ Thứ có mười hai người con, thì trong đó đã có chín người là liệt sĩ. Có những người đã hi sinh từ những ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, cũng có những người đã ra đi khi chỉ còn vài giờ nữa thôi là cả tổ quốc đã được thống nhất sau bao nhiêu năm chống Mỹ kể từ người đầu tiên đến người cuối cùng, bà vẫn luôn động viên các con của mình đấu tranh bảo vệ tổ quốc. Vào năm 1998, khi chiến tranh đã kết thúc, có một cựu chiến binh người Hàn Quốc đã hỏi mẹ rằng: “Thưa bà, với quan niệm người Á Đông, con cái là phúc lộc, là tài sản. Khi người con thứ tư, thứ năm tử trận, tại sao bà vẫn tiếp tục động viên những người con khác ra mặt trận?”. Bà chỉ bình tĩnh trả lời: “Ở nước tôi, Cụ Hồ đã dạy là “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nên cứ là người Việt Nam, trong đó có các con, các cháu tôi đều sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giành lấy độc lập, tự do. Nếu còn chiến tranh, các con tôi, rồi cháu tôi vẫn sẽ tiếp tục ra trận để giành độc lập, tự do, bình yên mà hôm nay chúng tôi đang hưởng.”. Nghe những lời nói của bà, không ai có thể kìm được nước mắt. Bà dù đau đớn, dù xót xa trước những đứa con mình rứt ruột sinh thành, nhưng vẫn sẵn sàng đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên cả. Hình ảnh của Mẹ Thứ chính là minh chứng mãnh liệt nhất cho lòng nồng nàn yêu nước của nhân dân Việt Nam.
Mẹ Thứ, có thể nói, chính là một con người vĩ đại, tượng trưng cho những lí tưởng cao đẹp nhất của con người Việt nam và sự hi sinh cho cái tổng thể, toàn cục lớn lao của cách mạng. Chính vì thể, hình ảnh của Mẹ sẽ sống mãi, và sẽ tiếp tục truyền cảm hứng cho những thế hệ tương lai.


