Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ Thứ - Khúc ca bất tử về tình mẫu tử

Đà Nẵng08/10/2026Huỳnh Thục My (Đoàn Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Mẹ Thứ - Khúc ca bất tử về tình mẫu tử

Thời gian có xoá được không

Nỗi đau lòng Mẹ mất chồng mất con

Tháng năm chờ đợi mỏi mòn

Trái tim đau đớn héo hon thân gây

Con ơi ! Về với Mẹ đây

Mẹ đã sắp xếp đủ đầy cho con

Ra đi khi tuổi còn son

Lãng quên nghĩa đạo làm con ở đời

Hồn con ở bốn phương trời

Thấu chăng lòng Mẹ cả đời mong con

Các con vì nước vì non

Mẹ già thân yếu đợi con trở về

Bây giờ lòng Mẹ tái tê

Chồng con đi mãi chẵng về đơn côi

Bàn tay gầy héo đôi môi

Bát hương quả trưng Mẹ ngôi đợi con

Phủ tấm lòng Mẹ sắt son

Hồn đọng hương khói vòng tròn bờ vai

Con Mẹ ở chốn tượng đài

Hãy về bên Mẹ chỉ vài giây thôi

Cô đơn Mẹ quá nhiều rồi

Lòng Mẹ cô quạnh bôi hôi xót xa

Đau lòng hình bóng Mẹ già

Ngày đêm lầm lũi cửa nhà NGÓNG CON !

(Lãng Du Khách)

Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng những mùa xuân không trở lại của hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Trong mạch nguồn thiêng ấy, mẹ Nguyễn Thị Thứ (1904 -

2010),thôn Thanh Quýt 2, phường

Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là Khối phố Thanh Quýt 2, phường An Thắng, TP Đà Nẵng) hiện lên như một tượng đài bất tử: chín người con trai, hai cháu ngoại và một con rể ngã xuống vì độc lập, tự do, mười hai liệt sĩ từ một mái nhà tranh cát trắng của mẹ. Tiếng ru của mẹ hòa trong bom đạn, nuôi lớn những trái tim quả cảm. Dáng hình gầy guộc của mẹ là hiện thân của ý chí bền bỉ, lòng yêu nước thầm lặng mà vĩ đại, di sản tinh thần cần được gìn giữ và lan tỏa bằng hành động mỗi ngày.

Sinh ra và lớn lên giữa miền Trung năng gió, mẹ Nguyễn Thị Thứ sớm thấm thía thế nào là nỗi cơ cực của một đời lam lũ. Mười tám tuổi, mẹ nên duyên với ông Lê Tự Trị, một người nông dân hiền hậu, chất phác.

Mười hai lần vượt cạn là mười hai lần mẹ đón lấy niềm vui xen lẫn nỗi lo canh cánh vì cái nghèo đeo bám. Thế rồi, khi thực dân Pháp tái xâm lược, khói lửa chiến tranh kéo về từng làng quê, ông Trị và các con trai lần lượt gia nhập du kích. Trước hiên nhà lợp rơm xứ Quảng, mẹ nhẹ tay buộc dải khăn đỏ lên vai con, không khóc, chỉ dặn: "Còn nước mình thì còn nhà mình." Từ đó, từng đứa con lần lượt ra đi và không trở lại. Người con thứ ba, Lê Tự Xuyến, giao liên, hy sinh năm 1948. Chưa đầy mười ngày sau, người con thứ tư, Lê Tự Hàn, cũng ngã xuống khi đang tải thương. Cùng tháng đó, người con thứ năm, Lê Tự Hãn, hy sinh trên mặt trận

Điện Bàn. Đầu tháng 4 năm 1954, đến lượt người con thứ sáu, Lê Tự Lem, ra đi khi mới vừa tròn hai mươi tuổi hy sinh trong lúc chiến đấu ở huyện nhà vào tháng 4-1954. Trong vòng 6 năm, mẹ Thứ mất 5 người con, đau thương dồn dập nhưng cứ khi con trưởng thành, mẹ lại động viên, tiễn con ra chiền trường.

Năm 1966, người con thứ bảy, Lê Tự Nự, bỏ mình ở mặt trận Khu 5. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, hai người con, Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh, cùng hy sinh. Và mẹ Thứ từng khấp khởi mong ngày người con trai cả, anh Lê Tự Truyện, trở về khi chiến dịch giải phóngSài Gòn tiến đến hồi kết. Ngày 30-4-1975, đúng ngày non sông thống nhất, mẹ lại nhận tin dữ về n con trai Lê Tự Chuyển, chiến sĩ biệt động  đã anh dũng ngã xuống ngay cửa ngõ Sài Gòn trước giờ chiến thắng. Nỗi đau của Mẹ đã cạn đến tận cùng nước mắt.

Không chỉ các con, con rể của mẹ, ông

Ngô Tường, cũng bị giặc Pháp tra tấn đến kiệt sức và qua đời năm 1956. Hai cháu ngoại, Ngô Thị Cúc và Ngô Thị Điều, lần lượt hy sinh trong mưa bom đạn những năm 1973 và 1974, khi tuổi đời còn rất trẻ.

Thăng cả gắp vội ăn đi

Món rau ngon lăm mẹ thì mới mua

Hôm nay mẹ nấu canh cua

Các con đông đủ ăn đua xem nào..

Giờ thì không được ồn ào

Thằng ba im lặng gắp vào mà ăn

Thằng tư sao mặt lại nhăn

Chắc lại ăn trúng ớt xanh nữa à

Thăng 5 liên tục xúc và

Ăn tham vẫn vậy như là trước kia

Thằng 6 vẫn xúc từng thìa

Ăn chậm lại trách ô kìa hết cơm

Thằng 7,thằng 8 dỗi hờn

Tính hay đố kỵ phải hơn mọi người

9 ơi! sao đứng đó cười

Anh em đông lăm nhịn cười mà ăn

Dứt lời nước mắt mẹ lăn

Mâm cơm mẹ nấu còn thằng nào đâu

Nhìn thẳng vào ánh mắt nâu

Là sự mất mát khăc sâu tâm hồn

9 đưa 9 sự cô đơn

Mỗi lần tin dữ đau hơn xé lòng

Mọi người hỏi có buồn không ?

Các anh tất cả đều không quay về

Đêm nào mẹ cũng ngủ mê

Mãy thăng bất hiếu chịu về rồi sao ?

Gỡ nón cho mẹ xem nào

Con mẹ ai cũng bánh bao vô cùng

Nhưng ai cũng tỏ lạnh lùng

Hiện ra phút chốc rồi cùng lìa xa

Đế cho mắt mẹ lại nhòa

Tay ôm di ảnh nhìn mà xót thương

Hôm nào cũng thức đêm trường

Đợi tiếng gõ cửa thân thương con về

Rồi sau thất vọng ê trê

Các anh tất cả có về nữa đâu

Thời gian mái tóc phai màu

Nhưng niềm đau ấy không sao cách rời.

(Kẻ Độc Cô)

Mỗi tờ giấy báo tử như một nhát dao cứa sâu vào lòng mẹ. Nhưng mẹ không gục ngã. Mẹ căn răng chịu đựng, nuôt nước mắt vào trong, âm thầm biến đau thương thành lửa, lửa của lòng tin yêu đất nước, lửa của một trái tim không khuất phục, lửa nung chảy nỗi căm thù để tiếp tục tiếp sức cho kháng chiến.

Sự mất mát, hy sinh của gia đình mẹ Thứ không có bút mực nào diễn tả hết. Nhiều cựu lãnh đạo, cán bộ vẫn còn kể câu chuyện, vào năm 1998 khi một đoàn khách nước ngoài về thăm mẹ Thứ, một nhà báo, cựu chiến binh người Hàn Quốc đã hỏi mẹ:

"Thưa bà, với quan niệm người Á Đông, con cái là phúc lộc, là tài sản. Khi người con thứ tư, thứ năm tử trận, tại sao bà vẫn tiếp tục động viên những người con khác ra mặt trận"?

Mẹ Thứ điềm tĩnh trả lời: "Ở nước tôi, Cụ Hồ đã dạy là "Không có gì quý hơn độc lập tự do" nên cứ là người Việt Nam, trong đó có các con, các cháu tôi đều sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giành lấy độc lập, tự do. Nếu còn chiến tranh, các con tôi, rồi cháu tôi vẫn sẽ tiếp tục ra trận để giành độc lập, tự do, bình yên mà hôm nay chúng tôi đang hưởng". Người cựu chiến binh Hàn Quốc sững người, rưng rưng nước mắt rồi thấp người xuống, cầm tay xin lỗi mẹ...

Nuốt nước mắt vào trong, Mẹ Thứ cùng con gái cả Lê Thị Trị kiên cường bám đất, giữ làng, hoạt động cách mạng. Trong khu vườn quanh nhà, bà Trị cùng Mẹ Thứ âm thầm làm"pháo đài sống"đào những căn hầm bí mật dưới bụi tre, để nuôi giấu cán bộ.

Mỗi lần địch càn quét hay bất ngờ ập tới, Mẹ Thứ vẫn bình thản đến lạ, lùa đàn bò buộc quanh bụi tre lấy lý do tránh nắng, dáng vẻ điềm nhiên khiến chúng không hề nghi ngờ. Trong khu vườn nhỏ ấy có tới 5 căn hầm bí mật, nơi che chở biết bao cán bộ cách mạng, du kích của ta thoát khỏi nanh vuốt kẻ thù.

Nơi đó, cán bộ Khu 5 họp bàn tác chiến, thương binh trú ngụ, vũ khí tạm cất giấu trước khi xuất kích. Cựu chiến binh Lê Tự Tân kể: "Tôi chui xuống hầm thấy nồi cơm đồng to như cái nia, khói thơm mùi lúa mới. Mẹ bưng gáo cơm chuyền từng tay, hơi ấm ấy xua tan mưa gió Phước Hà".Địch càn quét, mẹ khoác nón lá, ằm bó cỏ giả vờ chăn bò để xóa dấu cửa hầm. Đêm đến, bên ngọn đèn dầu tù mù, mẹ khâu vá áo trận, gói cơm năm, trộn muối rang tiếp tế. Cuối năm 1948, ba khăn tang liên tiếp phủ tóc bạc, song mẹ vẫn viết thư cho đơn vị: "Con ơi, mẹ còn đất, còn lụa chôn nhau, đừng chùn bước".Lời nhắn ấy đi suốt chiến trường, tiếp sức cho bao quân nhân.

Tết Mậu Thân 1968, pháo sáng rạch nát bầu trời Điện Bàn, mẹ đứng giữa ruộng ngập nước nhìn về núi Thành Mỹ nơi Lê Tự Nự đang gài mìn. Hè đó lửa 1972, khi nhận tin Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh hy sinh, mẹ lịm đi, tỉnh lại liên dặn con gái:"Lo hương khói cho anh, rồi tiếp tục nuôi quân". Ngôi nhà lá biến thành đài Liệt sĩ thu nhỏ: chín bằng Tố quốc ghi công kê kín vách, di ảnh con rê và hai cháu đặt chính giữa. Mẹ bảo người đến viếng: "Mẹ còn hơi thở là còn lo cho cách mạng".

Năm 80 tuổi, mẹ Thứ mù đôi mắt, sống với con gái ở quê nhà sau đó chuyển ra Đà Nẵng sống cùng con út Lê Tự Tân, Mẹ Thứ qua đời lúc 10 giờ ngày 14-12-2010, hưởng thọ 106 tuổi. Hôm tiễn Mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng, rất đông người dân từ khắp mọi miền đất nước đã về xóm Rừng để thắp nén nhang tiền biệt. Với nhiều người, đó không chỉ là lễ tiễn đưa một Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, mà còn là dịp để bày tỏ lòng biết ơn đối với thế hệ những người mẹ đã âm thầm hy sinh cho độc lập dân tộc.

Ngôi nhà nhỏ của Mẹ Thứ lặng im trong ánh chiều khói hương. Trên chiếc bàn thờ đã ngả màu thời gian, di ảnh Mẹ và di ảnh 9 người con liệt sĩ của Mẹ đặt cạnh nhau như chín khoảng trời ký ức chưa bao giờ khép lại. Căn nhà không rộng, đồ đạc giản dị, đơn sơ, nhưng từng góc nhỏ đều đặc quánh ký ức chiến tranh. Mẹ Thứ đã đi theo các con của Mẹ. Nhưng trong căn nhà nhỏ ở khối phố Thanh Quýt 2, hình bóng của Mẹ vẫn hiện hữu qua từng di ảnh, từng nén hương, từng câu chuyện được người dân địa phương kể lại cho con cháu nghe. Bước vào căn nhà ấy, nhìn 9 ngọn nến tượng trưng cho 9 người con liệt sĩ của Mẹ, mỗi người đều cảm nhận sâu sắc hơn giá trị của hòa bình hôm nay.

Quốc gia không bao giờ quên những người đã cho đi tất cả. Tháng 7 - 1994, Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng danh hiệu

Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cho mẹ Thứ.

Năm 2009, tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng trên núi Cấm, Tam Kỳ được khởi công,công trình lấy nguyên mẫu từ mẹ Nguyễn Thị Thứ. Với ý tưởng: Mẹ là suối nguồn bao la vô tận, là linh hồn đất nước.

Mẹ sinh ra từ mảnh đất anh hùng, rồi sinh ra những người con anh hùng và sẽ lại hoá thân vào đất, vào non nước Việt Nam. Mẹ sẽ sống mãi ngàn đời, vẫn tiếp thêm nguồn sức mạnh mẽ cho các thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Công trình với khối đá hoa cương dài 120m, cao 18,6m, xác lập kỷ lục ASEAN. Con đường "Mẹ Thứ" ở thị trấn Vĩnh Điện ngày ngày rộn tiếng trẻ tới trường. Ngày 10 - 12 - 2010, mẹ về với đất ở tuổi 106. Lễ tang giản dị, nhưng dòng người từ bác xe ôm đến học sinh, chiến sĩ hải quân về phép chầm chậm tiễn đưa. Khói hương quyện gió, song tinh thần mẹ lan tỏa, len vào nụ cười hòa bình của từng người con xứ Quảng.

Trong dòng chảy hào hùng của dân tộc, cán bộ, giảng viên, học viên, quân nhân tại Học viện Lục quân luôn soi mình vào tấm gương bất tử của mẹ Nguyễn Thị Thứ.

Từ bục giảng đến thao trường, từ nghiên cứu khoa học đến rèn luyện thể lực, mỗi người đều thấm nhuân một điều thiêng liêng: sống, học tập, chiến đấu sao cho xứng đáng với máu xương mà mẹ và hàng triệu người mẹ Việt Nam đã hiến dâng.

Quân nhân tại Học viện Lục quân hôm nay

không chỉ là người cầm súng nơi tuyến đầu, mà còn là chiến sĩ trên mặt trận trí tuệ, làm chủ công nghệ quân sự hiện đại, vũ khí thông minh, trí tuệ nhân tạo.Nhưng trước hết, họ phải rèn cho mình phẩm chất trung thành, chính trực, kỷ luật và nhân ai, như chính mẹ từng sống, từng nuôi quân, từng giữ lửa cho kháng chiến. Học viện Lục quân lấy phương châm "đức - trí - dũng - nhân" làm kim chỉ nam, đào tạo những quân nhân không chỉ giỏi tác chiến mà còn có tâm hồn lớn. Trong mỗi buối dã ngoại, giữa đêm thao luyện, giảng viên nhắc về mẹ Thứ như ngọn đuốc soi đường: "Một người mẹ nông dân đã nuôi cả sư đoàn, thì các anh càng phải biết nâng niu từng tấc đất quê hương".

Cuộc đời mẹ Nguyễn Thị Thứ là thiên anh hùng ca khắc bằng máu và nước mặt, soi rọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Ngọn lửa trong tim mẹ đã đốt cháy mọi sợ hãi, để lại nguồn sáng cửu cho nhân dân. Tri ân mẹ không thể dừng ở cảm xúc nhất thời, mà phải biến thành hành động cụ thể: học tập suốt đời, lao động hăng say, dân thân khi

Tổ quốc gọi tên. Ngày ngày rèn luyện bản lĩnh, mài sắc trí tuệ, phát huy nghiên cứu khoa học quân sự, làm chủ công nghệ mới, kiên quyết giữ vững chủ quyền lãnh thổ. Mỗi dòng mã lập trình hệ thống tác chiến mô phỏng, mỗi đường bút trên bản đồ hành quân, mỗi giọt mồ hôi trên sân bắn đều là hạt giống hòa bình.Chiều xuống, đứng trước tượng đài mẹ trên núi Cấm, ta nghe gió biến Trường Sa thổi qua vầng đá hoa cương, như lời mẹ nhắn: "Các con ơi, non sông này đã liền một dải, hãy giữ lấy bình yên, đừng để máu phải rơi thêm lần nữa". Đó là lời thề bất diệt, là mệnh lệnh mềm mại nhưng hùng hồn, dẫn dắt lớp trẻ dựng xây đất nước Việt Nam hùng cường, để bầu trời độc lập mãi những đoá hoa do mẹ tưới bằng máu và tình yêu vô tận.

Mẹ Thứ là biểu tượng của đức hy sinh, của lòng yêu nước và sức chịu đựng bền bỉ, phi thường của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh. Cuộc đời của Mẹ nhắc nhở các thế hệ hôm nay về cái giá to lớn của độc lập, tự do và về trách nhiệm giữ gìn những giá trị mà biết bao thế hệ cha anh đã đánh đổi bằng máu xương để giành lại. Cũng bởi thế mà tượng đài Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng tại Quảng Nam, lấy nguyên mẫu từ Mẹ Thứ, không chỉ là công trình nghệ thuật tưởng niệm, mà còn thể hiện khát vọng hòa bình, sự tri ân đối với những người mẹ đã dành trọn cuộc đời cho đất nước. Họa sĩ Đinh Gia Thắng, tác giả tượng đài, từng nhận xét rằng Mẹ Thứ có vẻ đẹp rất đặc biệt, dung dị, nhân hậu nhưng có nghị lực lớn lao của người phụ nữ Việt Nam.

Những năm gần đây, nhiều người từ khắp mọi miền đất nước đã tìm về tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng ở Quảng Nam với niềm xúc động và sự thành kính. Họ đến để tưởng nhớ Mẹ Thứ, cũng là để nhắc mình không bao giờ quên sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ, cùng những Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng trên dải đất hình chữ S anh hùng này.

"Chồng chết trận rồi, đến lượt con

Mẹ già cặm cụi sống chon von

Tôi nhìn mẹ, tưởng Bà Trưng hiện

Bà mẹ nghìn năm của nước non."

(Huy Cận)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn