Mẹ Thứ - Vầng Trăng Lặng Lẽ Trên Quê Hương Quảng Nam
Có những hy sinh không được viết thành lời ca, chỉ lặng lẽ khắc vào đất, vào trời, vào lòng người. Trong dòng chảy hào hùng của dân tộc, mẹ Nguyễn Thị Thứ hiện lên như một tượng đài bất tử, là biểu tượng thiêng liêng của Bà mẹ Việt Nam Anh hùng với sự cống hiến, hy sinh vô bờ bến. Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng những mùa xuân không trở lại của hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Trong mạch nguồn thiêng ấy, mẹ Thứ là một trong những người mẹ có nhiều con cháu hy sinh nhất trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Bài dự thi này xin được viết về mẹ, người mẹ Quảng Nam đã chín lần nhận giấy báo tử của các con trai, mười hai liệt sĩ từ một mái nhà tranh cát trắng.

Có những hy sinh không được viết thành lời ca, chỉ lặng lẽ khắc vào đất, vào trời, vào lòng người. Trong dòng chảy hào hùng của dân tộc, mẹ Nguyễn Thị Thứ hiện lên như một tượng đài bất tử, là biểu tượng thiêng liêng của Bà mẹ Việt Nam Anh hùng với sự cống hiến, hy sinh vô bờ bến. Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng những mùa xuân không trở lại của hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Trong mạch nguồn thiêng ấy, mẹ Thứ là một trong những người mẹ có nhiều con cháu hy sinh nhất trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Bài dự thi này xin được viết về mẹ, người mẹ Quảng Nam đã chín lần nhận giấy báo tử của các con trai, mười hai liệt sĩ từ một mái nhà tranh cát trắng.

Người mẹ vùng cát trắng
Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 tại xóm Rừng, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng) - vùng đất giàu truyền thống yêu nước, nơi riêng xã Điện Thắng Trung đã có 14 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Mẹ lớn lên giữa miền Trung nắng gió, sớm thấm thía nỗi cơ cực của một đời lam lũ.
Năm 18 tuổi, mẹ nên duyên với ông Lê Tự Trị, một nông dân hiền hậu, chất phác cùng làng quê. Mười hai lần vượt cạn là mười hai lần mẹ đón lấy niềm vui xen lẫn nỗi lo canh cánh vì cái nghèo đeo bám. Khi thực dân Pháp tái xâm lược, khói lửa chiến tranh kéo về từng làng quê, ông Trị và các con trai lần lượt gia nhập du kích. Trước hiên nhà lợp rơm xứ Quảng, mẹ nhẹ tay buộc dải khăn đỏ lên vai con, không khóc, chỉ dặn: "Còn nước mình thì còn nhà mình".
Hình ảnh người mẹ lặng lẽ buộc chiếc khăn đỏ lên vai con không khóc, không lưu luyến mà chỉ nói mấy lời giản dị ấy cứ đọng mãi trong tôi. Tôi tự hỏi, khi lòng đang quặn thắt vì biết có thể sẽ không bao giờ gặp lại con, mẹ đã lấy sức mạnh nào để kìm nén được nỗi đau ấy? Chỉ có tình yêu Tổ quốc lớn hơn cả nỗi đau riêng mới làm được điều kỳ diệu đó. Đối với tôi, khoảnh khắc mẹ buộc khăn chính là lúc mẹ đã "buộc" cả tương lai đất nước vào dòng máu của mình.

Nhà lưu niệm mẹ Thứ - nơi lưu giữ những kỷ vật thiêng liêng về người mẹ anh hùng


Giai đoạn 1948 - Sáu năm đau thương dồn dập
Năm 1948 trở thành ký ức đau đớn nhất của gia đình. Ngày 18-6-1948, người con trai Lê Tự Xuyến, chiến sĩ giao liên, bị giặc Pháp bắn tại đầu làng. Chưa nguôi nỗi đau, ngày 5-10-1948, người con Lê Tự Hàn Anh tiếp tục ngã xuống khi đang làm nhiệm vụ tải thương. Mười ngày sau, đến lượt Lê Tự Hàn Em hy sinh trong trận chống càn. Đầu tháng 4-1954, người con trai Lê Tự Lem, vừa tròn 20 tuổi, ra đi trong lúc chiến đấu ở huyện nhà.
Chỉ trong vòng 6 năm, mẹ Thứ mất 5 người con. Những mất mát dồn dập như cứa vào lòng người mẹ nghèo ở xóm Rừng. Nhưng điều kỳ diệu là mẹ không gục ngã. Cứ khi con trưởng thành, mẹ lại động viên, tiễn con ra chiến trường. Nuốt nước mắt vào trong, mẹ cùng những người con còn lại kiên cường bám đất, giữ làng, hoạt động cách mạng.
Tôi không thể hình dung nổi một người mẹ có thể chịu đựng nổi năm lần nhận tin con hy sinh chỉ trong sáu năm ngắn ngủi. Mỗi tờ giấy báo tử như một nhát dao cứa sâu vào lòng mẹ, nhưng mẹ vẫn đứng vững. Có lẽ chính nỗi đau ấy đã được mẹ biến thành lửa - lửa của lòng tin yêu đất nước, lửa của một trái tim không khuất phục. Đọc lại những dòng tư liệu, tôi chợt hiểu rằng sức mạnh phi thường của mẹ không phải là sức mạnh của thép đá, mà là sức mạnh của một người mẹ đã vượt lên trên cả giới hạn của con người vì một lý tưởng thiêng liêng.

Bức ảnh mẹ Thứ ngồi bên mâm cơm có 9 cái bát, 9 đôi đũa dành cho 9 người con đã hy sinh - bức ảnh do Đại tá, nhà báo Trần Hồng chụp, gây xúc động sâu sắc với bất cứ ai nhìn thấy.

Giai đoạn 1954 - 1975 - "Pháo đài sống" và những giấy báo tử
Cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài, những tờ giấy báo tử tiếp tục lần lượt gửi về ngôi nhà nhỏ ở xóm Rừng: Lê Tự Nự hy sinh ngày 5-9-1966; Lê Tự Mười hy sinh ngày 14-4-1972; Lê Tự Trịnh hy sinh ngày 12-9-1972; Lê Tự Thịnh, Đại đội trưởng bộ đội ở huyện Duy Xuyên, hy sinh ngày 28-8-1974 trong lần chỉ huy đơn vị đánh đồn giặc.
Đau đớn nhất là ngày 30-4-1975, đúng ngày non sông thống nhất, mẹ lại nhận tin dữ về người con trai cả Lê Tự Chuyển, chiến sĩ biệt động Sài Gòn, đã anh dũng ngã xuống ngay trên cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ vào Sài Gòn, chỉ vài giờ trước thời khắc đất nước hoàn toàn thống nhất.
Không chỉ các con, con rể của mẹ là ông Ngô Tường (chồng của bà Lê Thị Trị) tham gia cách mạng từ thời chống Pháp, bị giặc bắt năm 1956, bị tra tấn đến kiệt sức và hy sinh. Hai cháu ngoại là Ngô Thị Điểu, chưa tròn 16 tuổi đã làm giao liên, hy sinh tháng 8-1970 khi bị thương nặng và bị lính Mỹ bắt lên tàu tra hỏi; và Ngô Thị Cúc, hy sinh năm 1973 khi đang công tác vào vùng địch hậu. Như vậy, gia đình mẹ Thứ có tất cả 12 liệt sĩ.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Giữa những mất mát khôn cùng ấy, ngôi nhà của mẹ vẫn là một pháo đài sống giữa hậu phương. Trong khu vườn rộng quanh nhà có 5 căn hầm bí mật dưới bụi tre, nơi mẹ và con gái đầu Lê Thị Trị nuôi giấu nhiều cán bộ, bộ đội, du kích Quân Giải phóng miền Nam. Trên miệng hầm, mẹ thả hàng chục con bò ăn cỏ ngay trong vườn để ngụy trang. Lúc an toàn, mẹ mở hé cửa hầm cho mọi người dễ thở; khi có động, mẹ lại giả vờ trông coi bò để chỉnh sửa, ngụy trang lại miệng hầm. Hằng đêm, mẹ để ngọn đèn sáng bên bàn thờ làm ám hiệu an toàn cho cán bộ, du kích đi về hoạt động. Hàng trăm cán bộ, bộ đội, du kích đã được gia đình mẹ chở che, chăm sóc.
Tôi thực sự rung động trước hình ảnh một người mẹ nghèo lam lũ, đã đau khổ tột cùng vì mất mát, nhưng vẫn bình thản đến lạ lùng mỗi khi địch càn quét - vẫn lùa đàn bò quanh bụi tre, vẫn điềm nhiên giả vờ chăn bò để che giấu miệng hầm. Trong mắt loài người thường, đó là sự liều lĩnh, nhưng với mẹ, đó là lẽ sống: "Mẹ còn hơi thở là còn lo cho cách mạng". Năm 1998, khi phóng viên Hàn Quốc hỏi vì sao mẹ tiếp tục động viên con ra trận khi đã mất nhiều người, mẹ chỉ điềm đạm: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Còn giặc thì còn đi". Câu trả lời ấy khiến vị khách phải cúi đầu. Chính những câu nói giản dị ấy đã làm tôi nhận ra: lòng yêu nước của mẹ Thứ không phải là khẩu hiệu mà là máu thịt, là hơi thở hàng ngày của một người mẹ nông dân.

Gian thờ tự trong gia đình mẹ Thứ với 12 bằng Tổ quốc ghi công

Tượng đài đá - hóa thân của mẹ
Ngày 17-2-1994, mẹ Thứ vinh dự được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Quốc hội trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Năm 2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đến thăm mẹ tại xóm Rừng, cầm tay mẹ xúc động nói: "Mẹ đã tiếp thêm nghị lực cho chúng con vững bước. Mẹ là Mẹ Việt Nam".
Năm 2009, quần thể tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng được khởi công trên núi Cấm, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam, lấy nguyên mẫu gương mặt mẹ Thứ. Tượng đài cao 18,6m, xác lập kỷ lục ASEAN, là tượng đài về Mẹ Việt Nam lớn nhất cả nước - sự vinh danh bất tử cho những hy sinh của mẹ và hàng triệu bà mẹ Việt Nam.
Tôi chưa may mắn được một lần đứng trước tượng đài mẹ trên núi Cấm, nhưng qua từng thước phim, từng bức ảnh, tôi cảm nhận được sự thiêng liêng của khối đá hoa cương ấy. Tượng đài không chỉ khắc họa hình dáng một người mẹ cụ thể mà còn là hiện thân của hàng triệu bà mẹ Việt Nam - âm thầm, kiên cường và bất khuất. Chiều xuống, nếu được đứng đó, hẳn tôi sẽ nghe gió từ Trường Sa thổi về qua vầng đá hoa cương như lời mẹ nhắn nhủ: "Non sông này đã liền một dải, hãy giữ lấy bình yên, đừng để máu phải rơi thêm lần nữa". Với tôi, tượng đài không chỉ là đá vô tri mà là một "chứng nhân" sống động nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về cái giá của hòa bình.

Quần thể tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng tại núi Cấm, Tam Kỳ - in dấu khuôn mặt mẫu của mẹ Nguyễn Thị Thứ.
Nỗi đau và sự hy sinh của mẹ Thứ đã đi vào thơ ca, nhạc họa. Hình ảnh mẹ bên mâm cơm với chín cái bát, chín đôi đũa, chín nén hương gọi các con về những ngày giỗ Tết đã trở thành biểu tượng xúc động về tình mẫu tử thiêng liêng giữa chiến tranh. Người con trai thứ 11 của mẹ, ông Lê Tự Thận, ở tuổi ngoài 80 vẫn nhớ mãi lời mẹ dặn mỗi lần nhận tin con hy sinh: "Nỗi đau như dao cắt từng khúc ruột, nhưng vì độc lập dân tộc, vì thống nhất nước nhà, Mẹ chịu được".
Khi nghĩ về hình ảnh người mẹ già lam lũ xếp chín cái bát, chín đôi đũa bên mâm cơm ngày giỗ Tết, tôi không kìm được nước mắt. Bằng hành động tưởng chừng rất nhỏ ấy, mẹ như vẫn đang "đợi các con trở về", như thể chiến tranh chỉ là một cơn ác mộng. Sâu xa hơn, đó là nghi thức thiêng liêng của một trái tim mẹ không bao giờ nguôi ngoai. Tôi nhớ nhà thơ từng viết: "Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng những mùa xuân không trở lại của hàng triệu bà mẹ Việt Nam". Câu ấy cứ ám ảnh tôi mỗi khi nghĩ về mẹ Thứ - một hóa thân của biết bao nỗi đau và tình yêu nước vĩ đại.
Ngày 10-12-2010, mẹ về với đất ở tuổi 106, an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Điện Bàn. Lễ tang giản dị, nhưng dòng người từ bác xe ôm đến học sinh, chiến sĩ hải quân về phép chầm chậm tiễn đưa. Từ tháng 12-2011, tại thị trấn Vĩnh Điện, huyện Điện Bàn có con đường mang tên Mẹ Thứ.
Mẹ không còn nữa, nhưng tinh thần của mẹ lan tỏa, len vào nụ cười hòa bình của từng người con xứ Quảng. Cuộc đời mẹ Nguyễn Thị Thứ là thiên anh hùng ca khắc bằng máu và nước mắt, soi rọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Câu chuyện của mẹ nhắc nhở mỗi chúng ta: hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng những mùa xuân không trở lại của hàng triệu bà mẹ Việt Nam.
Tri ân mẹ không thể dừng ở cảm xúc nhất thời, mà phải biến thành hành động cụ thể: học tập suốt đời, lao động hăng say, dấn thân khi Tổ quốc gọi tên. Thế hệ trẻ hôm nay có trách nhiệm gìn giữ, tiếp nối và phát huy những giá trị cao đẹp ấy, để xứng đáng với máu xương mà mẹ và hàng triệu người mẹ Việt Nam đã hiến dâng.
Tài liệu tham khảo:
Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ - Tạp chí Văn hóa và Phát triển: https://vanhoavaphattrien.vn/me-viet-nam-anh-hung-nguyen-thi-thu-a23610.html
Nguyễn Thị Thứ - Wikipedia tiếng Việt: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Thị_Thứ
Mẹ Nguyễn Thị Thứ - Biểu tượng hy sinh bất tử của Mẹ Việt Nam Anh hùng - Học viện Lục quân: https://hvlq.vn/tin-tuc/tin-trong-nuoc/me-nguyen-thi-thu-bieu-tuong-hy-sinh-bat-tu-cua-me-viet-nam-anh-hung.html
Mẹ Thứ - biểu tượng vĩnh hằng của Mẹ Việt Nam anh hùng - Báo Công an Nhân dân: https://congan.com.vn/tin-chinh/me-thu-bieu-tuong-vinh-hang-cua-me-viet-nam-anh-hung_92007.html
Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ - biểu tượng của lòng yêu nước - Báo Quân đội Nhân dân: https://www.qdnd.vn/ba-me-viet-nam-anh-hung/me-viet-nam-anh-hung-nguyen-thi-thu-bieu-tuong-cua-long-yeu-nuoc-duc-hy-sinh-cua-nguoi-phu-nu-viet-nam-1040986


