Mẹ Tơm
Mẹ Tơm - người mẹ của chiến sĩ cách mạng

Trong quá trình trải nghiệm văn học, được học qua rất nhiều tác phẩm từ những bản thơ tình, những câu chuyện về hiện thực xã hội, mỗi một lần trải nghiệm tôi dường như được học và thấy được rất nhiều con người với những cảm xúc, tính cách, hoàn cảnh khác nhau. Và đặc biệt khi tôi được đọc và phân tích bài thơ “ Mẹ Tơm” của nhà thơ Tố Hữu thì trong tôi lại được cảm nhận được sự khâm phục, biết ơn tinh thần cách mạng cao cả của mẹ Tơm cũng như gia đình của mẹ. Tác giả đưa tôi đi hết từ cung bậc cảm xúc này đến cung bậc cảm xúc khác và đặc biệt nhất là hình ảnh người mẹ chăm lo cho những chiến sĩ cách mạng như những đứa con ruột của mình. Nhà thơ Tố Hữu cũng gọi bà bằng một tiếng thiêng liêng nhất là “Mẹ”. Điều đó khiến tôi luôn khắc ghi bài thơ đẹp này và muốn kể cho mọi người cùng biết.
“Tôi trở về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa nắng dài bãi cát ”
(Mẹ Tơm-Tố Hữu)
Bãi biển Hanh Cù nay thuộc xã Đa Lộc, Huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa vẫn như in bóng dáng tần tảo của mẹ Tơm. Người mẹ từng được nhà thơ Tố Hữu nhắc đến trong bài thơ cùng tên. Mẹ Tơm tên thật là Nguyễn Thị Quyển (1880-1953, quê ở làng Hanh Cù, nay là thôn Đông Thành, xã Đa Lộc). Theo tài liệu lịch sử, sau khi chiếm khu du kích Ngọc Trạo, huyện Thạch Thành thất bại, tình thế nguy cấp nên vào năm 1942, Tỉnh ủy lâm thời Thanh Hóa phải chuyển sang vùng Nga Sơn, Hậu Lộc tiếp tục hoạt động. Ngôi nhà tranh vách nứa ba gian trên cồn cát ven biển hoang vắng của gia đình mẹ Tơm được chọn trở thành nơi nuôi giấu cán bộ, in tài liệu, viết truyền đơn. Nơi đây được coi là căn cứ cách mạng của Tỉnh ủy Thanh Hóa lâm thời bấy giờ.
Mẹ Tơm mò cua bắt ốc, chồng mẹ đan lát, các con mẹ cắt tóc dạo. Tất cả đều là hình thức để tuyên truyền, canh gác và nuôi dưỡng các cán bộ Việt Minh.Trong ngôi nhà lá đơn sơ ngày đó của gia đình mẹ, các nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng ở xứ Thanh như đồng chí Tố Hữu, đồng chí Lê Tất Đắc đã phát hành báo “Đuổi giặc nước” những tờ báo đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa. Ông Vũ Xuân Thu là cháu nội của bà Nguyễn Thị Quyển- mẹ Tơm đã cho mọi người thấy về những chiếc tông- đơ của bác và bố của ông những ngày cắt tóc và xây dựng cơ sở đồng thời lấy tiền để nuôi gia đình và sau đó là nuôi các chiến sĩ cách mạng. Ông Thu còn kể lại rằng:” Có một chiếc hũ nhỏ khi bác và bố của ông đi cắt tóc về thì 1 ít tiền sẽ để ăn cho ngày nay, ngày mai, ngày kia còn lại bao nhiêu là bà bỏ vào hũ tiết kiệm. Trong hồi ký “ Nhớ lại một thời” của Tố Hữu và hồi ký cách mạng” Chim vượt gió” của Lê Tất Đắc đều nhắc đến những kỷ niệm mà một thời được gia đình nuôi giấu các bác ở đây. Bác Lê Tất Đắc có một lần bị xốt rét thì mẹ Tơm đã nấu cháo hành cho bác ăn, bác lên những cơn rét tưởng đâu sẽ chết thế mà mẹ Tơm đã lấy những váy đủi của các bà ngày xưa vá lại trăm túm nghìn túm để đắp cho bác. Nhà thơ Lê Tất Đắc còn dặn mẹ Tơm, con có chết thì mẹ sang đất cho bằng đừng để thành cái mộ, bọn Tây mà phát hiện được thì cả nhà phải đi tù.
Mẹ Tơm và gia đình đã không ngại hy sinh che chở cho cán bộ, nhà thơ Tố Hữu hồi tưởng lại
“ Nhưng một đêm mưa ướt bãi cồn
Lính về lính trói cả hai con
Máu con đỏ cát đường thôn lạnh
Bóng mẹ ngồi trông, vọng nước non!”
Khi cơ sở bị lộ các con trai của mẹ Tơm đã bị tra tấn dã man chứ nhất quyết không khai, còn mẹ Tơm dù đau xót cho những người con mình rứt ruột sinh ra vẫn quyết không hé nữa lời. Mộc mạc nhưng son sắt tình cảm của mẹ Tơm dành cho các chiến sĩ cách mạng năm xưa sẽ luôn khắc ghi giống như 2 câu thơ lưu lại nơi mẹ Tơm yên nghỉ.
“ Sống trong cát chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời !”
Tố Hữu- một nhà thơ có một kho tàng đồ sộ với những dòng thơ viết về mẹ. Trong tập thơ “Từ ấy” có bài ” Bà má Hậu Giang”; trong tập thơ “Việt Bắc” có “Bầm ơi!” “Bà Bủ”, “Bà mẹ Việt Bắc”, trong tập thơ “Gió lộng” có “Quê mẹ”, “Mẹ Tơm”; trong tập thơ”Ra trận” có “Mẹ Suốt”… Ông viết về người mẹ với tấm lòng thương yêu, kính trọng, ngợi ca. Và đặc biệt hơn hết là bài thơ “Mẹ Tơm” được tác giả viết với dòng cảm xúc cao quý ấy và gửi gắm lòng biết ơn người mẹ đã nuôi dưỡng nhà thơ trong những ngày vượt ngục. Từ xúc cảm cụ thể, bài thơ vươn lên triết lí, đề cao đạo lí ân nghĩa của dân tộc.
Bài thơ “Mẹ Tơm” cũng được tác giả viết với dòng cảm xúc cao quý ấy và gửi gắm lòng biết ơn người mẹ đã nuôi dưỡng nhà thơ trong những ngày vượt ngục. Từ xúc cảm cụ thể, bài thơ vươn lên triết lí, để cao dạo lí ân nghĩa của dân tộc.Tác giả đã chọn thể loại thơ trữ tình kết hợp với tự sự thích hợp với giọng điệu tâm tình. Kết cấu của bài thơ theo diễn biến của cuộc hành trình và theo sự vận động nội tâm của tác giả.
Ở đầu bài thơ với cảm xúc dào dạt khi nhà thơ trở về miền biển Hậu Lộc, quê hương của mẹ Tơm, sau mười chín năm xa cách:
“Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa, nắg dài bãi cát
Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa
Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát…”
Nhà thơ đi trong không gian thoáng đãng, dưới trưa nắng sáng, trong âm vang của sóng biển sau ngần ấy năm xa cách nhà thơ vẫn luôn nhớ về mẹ Tơm. Nhà thơ trở nên hồn nhiên, trò chuyện với những cái không thể trò chuyện được, chào hỏi những vật vô tri như chào hỏi cố nhân:
“Hòn Nẹ ta ơi! Mảng về chưa đó
Có nhiều không con nục, con thu?
Cho những buồm nâu thuyền câu Diêm Phố!
Nhớ nhau chăng, hỡi Hanh Cát, Hanh Cù?”
Trong điệu nhạc ân tình, nhà thơ tưởng nhớ đến người mẹ nuôi xưa.Tố Hữu nhớ đến mẹ Tơm là nhớ đến một người mẹ giàu lòng thương yêu, có lí tưởng cao quý. Chính mẹ Tơm mười chín năm về trước đã nuôi dưỡng, che chở, bảo vệ cho Tố Hữu trong những ngày vượt ngục đầy gian nan, bất chấp bạo lực của kẻ thù. Mẹ Tơm tình nghĩa mà anh hùng!
“Con đã về đây, ơi mẹ Tơm
Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm
Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy
Không sợ tù gông, chấp súng gươm”
Nhà thơ ngạc nhiên, vui mừng trước sự đổi thay của quê hương Hậu Lộc đã nói lên sự thay da đổi thịt của miền quê Hậu Lộc – một miền quê biển thanh bình , sung túc.
“Nhà ai mới nhỉ, tường vôi trắng
Thơm phức mùi tôm nặng mấy nong
Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng
Giếng vườn ai vậy , nước khơi trong ? “
Rồi giọng thơ lại bùi ngùi trước hai tin buồn. Nhà thơ lại “ bâng khuâng” nhớ lại chuyện cũ. Mười chín năm trước , Tố Hữu và một số bạn tù đã vượt ngục Đắc Lay về Thanh Hoá và “ Duyên may dây nối , đất Hanh Cù”. Nhà thơ và các bạn tù đã tìm đến bà mẹ nghèo ở đất Hanh Cù :
“Bà về năm đói , làng treo lưới
Biển động : Hòn Mê , giặc bắn vào … “
Mẹ Tơm nghèo nhưng tình nghĩa “thương người cộng sản, căm Tây , Nhật “ , trung thành , thuỷ chung với cách mạng :“Buồng Mẹ – buồng tim – giấu chúng con”. Thật không còn hình ảnh nào xác thực hơn để ngợi ca lòng trung thành của mẹ Tơm đối với Đảng , với cách mạng ! Hình tượng người Mẹ cứ lớn dần lên hoà lẫn với non nước thật là cao đẹp.Mẹ Tơm từ người mẹ nuôi dưỡng , đã trở thành người mẹ tranh đấu. Từ những việc làm âm thầm như nuôi giấu cán bộ , ngồi canh cho những hoạt động của chiến sĩ cách mạng , dần dần Mẹ đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tranh :
“Chợ xa , Mẹ gánh mớ rau xanh
Thêm bó truyền đơn gọi đấu tranh
Bãi cát vàng thau in bóng mẹ
Chiều về…Hòn Nẹ…biển reo quanh! “
Nhà thơ tưởng niệm mẹ Tơm bằng một “ nén hương thơm “ và triết lí sâu sắc ngợi ca người Mẹ tình nghĩa mà anh hùng :
“Đốt nén hương thơm , mát dạ Người
Hãy về vui chút , mẹ Tơm ơi!
Nắng tươi xóm ngói , tường vôi mới
Phấp phới buồm giong , nắng biển khơi “
Thành công lớn nhất của bài thơ là đã tái hiện được hình ảnh mẹ Tơm . Người mẹ nghèo khổ sống lặng lẽ âm thầm nhưng giàu lòng thương yêu và son sắt thuỷ chung với cách mạng . Từ người mẹ thật ngoài đời đã bước vào trong thơ thành nhân vật lí tưởng của thi nhân . Tượng đài người mẹ anh hùng mà tình nghĩa dược hiện lên trong âm nhạc hoài niệm và ngợi ca nên có sức ngân vang mãi trong lòng người đọc. Đối với tôi là một độc giả khi được đọc và ngẫm nghĩ về bài thơ khiến tôi càng biết ơn về thế hệ trước đã dũng cảm, hy sinh như thế nào để ngày hôm nay theese hệ chúng ta được hưởng những điều tốt đẹp nhất. Điều đó cho những thanh niên, những người trẻ ngày càng phấn đấu sống xứng đáng với những gì cha ông ta đã hy sinh cũng như là luôn cống hiến cho xã hội và đất nước.
Di tích lịch sử cách mạng mẹ Tơm nằm trên đường liên thôn ở làng Đông Thành, xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc. Hiện dấu tích căn nhà tranh vách đất năm xưa không còn, mà được thay bằng ngôi nhà ngói ba gian khang trang trong khuôn viên rộng khoảng 500 m2 với vườn cây rợp bóng mát. Theo chính quyền địa phương, hàng năm khu lưu niệm thu hút rất đông người dân, các nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá và du khách thập phương đến tham quan. Ngôi nhà được bài trí gọn gàng với ban thờ ở chính giữa và chủ yếu lưu giữ kỷ vật gắn với cuộc đời mẹ Tơm cùng những nhân vật lịch sử thời kỳ tiền khởi nghĩa trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ngôi nhà mẹ Tơm được công nhận Di tích lịch sử năm 2010. Bà Nguyễn Thị Quyển, tức mẹ Tơm được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng "Có công với nước".



