Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ Trần Thị Hương

Sinh năm 1921 tại xã Bàn Long, huyện Châu Thành, mẹ Trần Thị Hương, thường gọi là bà Năm Nhung, lớn lên trong bối cảnh đất nước chìm trong ách áp bức của thực dân, đế quốc. Từ sớm, mẹ đã thấm thía nỗi cơ cực của người dân mất nước và sớm hình thành trong mình lòng yêu nước, tinh thần kiên cường của người phụ nữ Nam Bộ.

02/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh năm 1921 tại xã Bàn Long, huyện Châu Thành, mẹ Trần Thị Hương, thường gọi là bà Năm Nhung, lớn lên trong bối cảnh đất nước chìm trong ách áp bức của thực dân, đế quốc. Từ sớm, mẹ đã thấm thía nỗi cơ cực của người dân mất nước và sớm hình thành trong mình lòng yêu nước, tinh thần kiên cường của người phụ nữ Nam Bộ. Mẹ nên duyên cùng ông Đoàn Văn Nhung, một thanh niên yêu nước quê xã Vĩnh Kim. Theo chồng về quê mới, mẹ gây dựng gia đình, sinh và nuôi dưỡng 11 người con giữa muôn vàn gian khó. Khi ông Nhung tham gia hoạt động cách mạng từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mẹ trở thành hậu phương vững chắc, vừa tần tảo nuôi con, vừa trực tiếp tham gia công tác cách mạng, đảm nhiệm vai trò cán bộ Hội Phụ nữ cứu quốc xã Vĩnh Kim. Những năm tháng chiến tranh ác liệt, mẹ Trần Thị Hương không chỉ đối diện với cái đói, cái nghèo, mà còn đối mặt trực tiếp với sự khủng bố tàn bạo của kẻ thù. Năm 1969, trong lúc đang làm nhiệm vụ, mẹ bị địch bắt và giam giữ tại Chi cảnh sát xã Vĩnh Kim suốt hai ngày. Trong nhà giam, mẹ bị tra tấn dã man đến mù cả hai mắt, để lại thương tật nặng nề, được xác nhận thương tật 1/4. Dù mất đi ánh sáng của đôi mắt, mẹ vẫn không khuất phục, vẫn giữ trọn khí tiết của người chiến sĩ cách mạng, quyết không khai báo, không phản bội đồng chí, đồng đội. Nỗi đau thể xác chưa kịp nguôi thì những mất mát lớn lao liên tiếp ập đến. Mẹ có chồng và hai người con ruột anh dũng hy sinh vì Tổ quốc. Chồng mẹ, liệt sĩ Đoàn Văn Nhung (sinh năm 1919), tham gia cách mạng từ ngày 29 tháng 2 năm 1945, công tác trong Nông hội ấp Vĩnh Hòa. Ông là cán bộ tận tụy, kiên trung, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Ngày 6 tháng 7 năm 1969, ông hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, để lại người vợ mù lòa và đàn con thơ giữa thời chiến. Người con trai thứ, liệt sĩ Đoàn Văn Quai (sinh năm 1941), tham gia cách mạng từ năm 1964, là du kích xã Song Thuận. Anh chiến đấu dũng cảm, lập nhiều thành tích và được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì. Ngày 27 tháng 9 năm 1968, anh anh dũng hy sinh trong chiến đấu, góp phần tô thắm truyền thống anh hùng của gia đình. Người con trai khác, liệt sĩ Đoàn Quang Thế (sinh năm 1945), tham gia cách mạng từ tháng 2 năm 1962, công tác tại Tiểu đội 5, Đoàn 21, Bộ Tham mưu. Anh là chiến sĩ gan dạ, mưu trí, được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì. Ngày 8 tháng 6 năm 1971, anh hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, hài cốt bị thất lạc, để lại trong lòng mẹ nỗi đau khắc khoải không nguôi. Ba lần tiễn người thân ra đi mãi mãi, đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng, nhưng trái tim của mẹ Trần Thị Hương chưa bao giờ tắt lửa. Mẹ tiếp tục sống kiên cường, nén đau thương để chăm lo cho các con còn lại, trở thành chỗ dựa tinh thần cho gia đình và là tấm gương sáng cho phong trào phụ nữ, cho Nhân dân địa phương noi theo. Ghi nhận những cống hiến, hy sinh đặc biệt to lớn ấy, ngày 17 tháng 12 năm 1994, Chủ tịch nước phong tặng mẹ Trần Thị Hương danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” theo Quyết định số 394-KT/CTN. Mẹ qua đời năm 1997, khép lại một cuộc đời đầy gian lao nhưng rực sáng bởi lòng yêu nước và đức hy sinh. Ngày nay, phần hương khói của mẹ được người con út là ông Đoàn Quang Thành gìn giữ, thờ cúng tại ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Kim. Nhưng hình ảnh bà Năm Nhung – người mẹ mù lòa giữa chiến tranh, người vợ, người mẹ ba lần tiễn biệt người thân vì độc lập dân tộc – vẫn sống mãi trong ký ức của quê hương và trong lòng các thế hệ hôm nay. Câu chuyện về mẹ Trần Thị Hương là lời nhắc nhở sâu sắc đối với thế hệ trẻ: tự do, hòa bình không chỉ được đánh đổi bằng máu xương nơi chiến trường, mà còn bằng nước mắt, bằng ánh sáng đôi mắt và cả cuộc đời của những người mẹ Việt Nam anh hùng. Sống có lý tưởng, có trách nhiệm, biết trân trọng và tiếp nối truyền thống cách mạng chính là cách thiết thực nhất để tri ân và làm rạng danh những hy sinh cao cả ấy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn