Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Mè
Mẹ Bùi Thị Mè sinh ra trong một gia đình coi trọng việc học, từ nhỏ đã được cha mẹ cho ăn học chu đáo. Với tư chất thông minh, hiếu học, mẹ sớm bộc lộ năng lực vượt trội. Sau khi học xong bậc tiểu học tại Cái Nhum, mẹ lên Vĩnh Long ở nhờ nhà bà con, thi đậu vào trường nữ học đường thị xã Vĩnh Long, học nội trú và sau bốn năm tốt nghiệp bằng Thành chung. Chồng mẹ là ông Nguyễn Văn Nhơn (sinh năm 1916), một nhà giáo tại xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ năm 1946, vợ chồng mẹ hoạt động hợp pháp dưới danh nghĩa thương gia tại Bến Tre, bí mật ủng hộ kinh tế cho kháng chiến. Sau khi Bến Tre rơi vào tay địch, gia đình mẹ chuyển sang Bãi Xan, xã Đức Mỹ, quận Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Do hoàn cảnh con đông, còn nhỏ, không thể thoát ly vào chiến khu, mẹ chủ động liên lạc với Tỉnh ủy Trà Vinh để hoạt động hợp pháp cho cách mạng. Năm 1950, khi mới 29 tuổi, mẹ mở Trường Trung học tư thục Long Đức (xã Long Đức, quận Châu Thành, tỉnh Trà Vinh) và làm Hiệu trưởng. Bề ngoài là một cơ sở giáo dục tư thục, nhưng thực chất đây là cơ sở hợp pháp của Tỉnh ủy Trà Vinh, nơi che giấu, nuôi dưỡng và bảo vệ nhiều cán bộ cách mạng.
Từ năm 1950 đến 1957, mẹ hoạt động hợp pháp dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Trà Vinh, giữ nhiều trọng trách như Tổng Thư ký Hội Phụ nữ yêu nước tỉnh Trà Vinh, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Chẩn tế – Xã hội tỉnh. Với uy tín, tri thức và sự khéo léo, mẹ là cầu nối quan trọng để vận động trí thức, thương gia và các tầng lớp xã hội ủng hộ phong trào kháng chiến. Năm 1957, khi chính quyền Ngô Đình Diệm nghi ngờ và ra lệnh đóng cửa trường Trung học tư thục Long Đức, mẹ bình tĩnh lên Sài Gòn gặp Bộ trưởng Bộ Giáo dục của chính quyền Sài Gòn để đấu tranh, khéo léo tạo thế hợp pháp, tiếp tục ở lại Trà Vinh dạy học và hoạt động cách mạng.
Sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời năm 1960, mẹ được Tỉnh ủy Trà Vinh giới thiệu công tác tại Khu ủy Tây Nam Bộ, là thành viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng Khu Tây Nam Bộ và Ủy viên Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Năm 1964, mẹ được điều về Trung ương Cục miền Nam, công tác tại Ban Tuyên huấn rồi Ban Phụ vận. Năm 1965, tại Đại hội Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam, mẹ được bầu vào Ban Chấp hành Hội Phụ nữ Giải phóng, đồng thời kiêm Phó Chủ tịch Hội Nhà giáo yêu nước miền Nam Việt Nam.
Năm 1969, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, mẹ được giao trọng trách Thứ trưởng Bộ Y tế – Xã hội – Thương binh, phụ trách công tác xã hội – thương binh. Trong suốt giai đoạn từ 1969 đến 1976, với phong cách sống giản dị, gần gũi và tinh thần trách nhiệm cao, mẹ là nữ Thứ trưởng duy nhất của Bộ, trực tiếp chỉ đạo nhiều hoạt động y tế, xã hội, chăm lo thương binh, gia đình liệt sĩ, góp phần quan trọng vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1974, mẹ được cử ra Hà Nội công tác, tham dự Đại hội Phụ nữ Việt Nam và tham gia công tác đối ngoại, gặp gỡ nhiều đoàn phụ nữ quốc tế. Với vốn tiếng Pháp vững vàng và tư duy sắc sảo của một nhà giáo, mẹ đã góp phần giúp bạn bè thế giới hiểu rõ hơn về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân miền Nam và hình ảnh người phụ nữ Việt Nam anh hùng.
Tháng 1/1974, mẹ vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, dù công khai hay bí mật, mẹ luôn được nhân dân tin yêu, che chở. Không chỉ cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng, mẹ còn phải gánh chịu những mất mát vô cùng to lớn: ba người con trai của mẹ là liệt sĩ Nguyễn Huỳnh Sanh, Nguyễn Huỳnh Tài, Nguyễn Huỳnh Đại đã anh dũng hy sinh trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968; người con trai Nguyễn Huỳnh Đạo là thương binh, bị thương nặng tại chiến trường T3. Dù nỗi đau mất con không gì bù đắp được, mẹ vẫn giữ trọn niềm tin sắt son vào Đảng, vào Bác Hồ, vào Tổ quốc và nhân dân.
Sau ngày đất nước thống nhất, mẹ tiếp tục đảm nhiệm cương vị Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ TP.Hồ Chí Minh. Mẹ từ trần vào tháng 3 năm 2014. Ghi nhận những hy sinh, cống hiến to lớn đó, ngày 17/12/1994, mẹ Bùi Thị Mè được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cùng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Giải phóng hạng Nhất và Nhì, Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, Huy hiệu Thành phố Hồ Chí Minh và Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Cuộc đời mẹ là tấm gương tiêu biểu của người phụ nữ trí thức Việt Nam đã hiến dâng trọn vẹn trí tuệ, tình yêu và cả máu xương của gia đình mình cho độc lập, tự do của dân tộc.
Nguồn: Bảo tảng phụ nữ Nam Bộ



