Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ Việt Nam anh hùng Đào Thị Nhẫn

TP. Hồ Chí Minh24/09/2026Xã Minh Đức (Đoàn xã Minh Đức)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đào Thị Nhẫn (1928-2007) Trong số các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng ở huyện Xuân Lộc được Nhà nước phong tặng đợt đầu tiên năm 1994, có một má là người dân tộc Chơro - má Đào Thị Nhẫn. Má Nhẫn sinh năm 1928 tại Cẩm Mỹ, Xuân Lộc (nay là xã Xuân Mỹ, huyện Cẩm Mỹ). Má Nhẫn vốn không phải họ Đào. Thời đó con gái dân tộc Chơro chỉ có họ Thị. Má và một người chị nguyên là chị em sinh đôi, cùng tên là Thị Thường, mọi người hay gọi là Thường chị và Thường em để phân biệt. Dưới chế độ thực dân, đế quốc, cũng như bao dân tộc khác đời sống của đồng bào dân tộc Chơro ở đây vô cùng cơ cực, đói rét triền miên. Gia đình má đông người, quanh năm đầu tắt, mặt tối, làm lụng vất vả vẫn đói ăn, thiếu mặc. Những năm nương rẫy thất bát, gia đình má cũng như bà con trong buôn sóc phải sống lây lất bằng củ mì, củ chụp và lá rau rừng. Cuộc đời mịt mùng trong khổ ải kéo dài hết năm này qua năm khác, tưởng chừng không lối thoát. Năm 1944, đến tuổi “đi bắt chồng”, má kết duyên với ông Võ Văn Khối, người dân tộc Kinh, quê ở Biên Hòa. Ông Khối lớn hơn má một mùa rẫy. Vợ chồng sống với nhau, má đã năm lần sinh nở nhưng chỉ nuôi được duy nhất một người con trai là anh Võ Văn Bình. Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, công nhân cao su ở đồn điền Cẩm Mỹ, trong đó có đồng bào dân tộc Chơro được đổi đời và bắt tay xây dựng cuộc sống mới. Chị SÁNG NGỜI CHẤT NGỌC ANH HÙNG của má, bà Thường chị “bắt chồng” là ông Điểu Xiển - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến làng Võ Dõng (nay thuộc phạm vi xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất) và là Đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Thế nhưng, những ngày độc lập tự do chỉ được mấy tháng ngắn ngủi, đầu năm 1946, giặc Pháp kéo quân về tái chiếm đồn điền cao su, tái chiếm Cẩm Mỹ quê hương má. Không cam chịu cảnh đời nô lệ, vợ chồng má đưa gia đình vào rừng theo cách mạng, đánh Tây. Năm 1946, ông Điểu Xiển trên đường ra Hà Nội họp Quốc hội thì bị giặc Pháp bắt, hy sinh. Lúc này, bà Thường chị đang có thai, sau khi ông Điểu Xiển mất bà sinh người con trai đặt tên là Điểu Bụi. 2 chị em Thường chị, Thường em sống nương tựa vào nhau để cùng nuôi cháu. Sống ở chiến khu Xuyên Phước Cơ (Bà Rịa) má vừa tham gia công tác, vừa lo tăng gia sản xuất nuôi gia đình, nuôi bộ đội, cán bộ kháng chiến. Chiến tranh chống Pháp thắng lợi, hòa bình lập lại, gia đình má trở về Cẩm Mỹ sinh sống. Tuy nhiên, sau năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm lùng bắt, tàn sát những người kháng chiến cũ. Điểu Bụi - con của liệt sĩ Điểu Xiển, năm 1960 mới 14 tuổi cũng bị bắt đưa về khám Chí Hòa giam giữ và chết tại đây. Trong những năm 1960-1961, hàng chục thanh niên nam nữ, công nhân cao su, thanh niên dân tộc Chơro thoát ly gia đình để kháng chiến chống Mỹ. Năm 1964, anh Bình, con má vừa tròn 16 tuổi, anh năn nỉ xin má đi thoát ly, tham gia vào đội du kích xã. Sau đó một năm, anh chuyển lên làm nhiệm vụ công tác giao liên huyện. Từ ngày đó, má không còn gặp được anh Bình nữa. Khi vác con dao vào rừng hay vác cây cuốc vào rẫy, má đều nhớ đến con. Má thầm vái Giàng phù hộ cho con má mạnh khỏe để đánh giặc. Càng thương nhớ con 588 BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG TỈNH ĐỒNG NAI bao nhiêu, má càng thương bộ đội giải phóng bấy nhiêu. Má xem các anh như con má. Có cái gì má cũng cho, ăn gì má cũng gọi. Nhiều lần má luồn rừng lội suối, vượt qua đồn bót giặc mang đồ tiếp tế đến cho bộ đội, du kích. Ngày nọ nối tiếp ngày kia, năm này tiếp qua năm khác, từ khi Bình ra đi đã qua mấy mùa nương, mùa rẫy rồi mà chẳng có tin về. Lòng má đêm ngày bồn chồn, lo lắng nhớ mong. Gần 10 năm biền biệt vắng tin, má ngỡ con má đi công tác xa xôi không liên lạc được với gia đình, ngờ đâu sau ngày giải phóng (tháng 4/1975) má được tin anh Bình đã hy sinh từ hồi tháng 4/1969. Đồng đội anh kể hôm đó trên đường đi công tác, Bình và ba đồng chí của anh bị địch phục kích. Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt, một đại đội địch vây chặt, các anh đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng quyết không để sa vào tay giặc, và cả bốn đồng chí đều anh dũng hy sinh. Năm 1970, má bị địch bắt, đưa về giam giữ ở Bà Rịa. Mãi đến năm 1973 má mới được thả ra, các cháu (con của bà Thường chị với người chồng sau) đưa má về xã Xuân Phú (huyện Xuân Lộc) tạm lánh và đổi tên là Đào Thị Nhẫn để che mắt địch. Người con trai duy nhất đã hy sinh, má Nhẫn sống với chị và các cháu mà bà xem như con ruột cho đến lúc qua đời ngày 27/8/2007. Má được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994. Má qua đời ngày 27/8/2007.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn