MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG – HUYỀN THOẠI TRÊN NỀN ĐẤT ĐÁ_VÀ LÒNG ĐẤT MẸ

MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG – HUYỀN THOẠI TRÊN NỀN ĐẤT ĐÁ_VÀ LÒNG ĐẤT MẸ
Có những sự hy sinh được ghi danh vào bảng vàng lịch sử bằng những chiến công hiển hách, nhưng cũng có những sự hy sinh gửi vào thầm lặng, kết tinh thành bóng hình kiên trung dưới mái hiên nhà. Đó là các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng – những người không trực tiếp cầm súng ra mặt trận, nhưng lại là người gánh chịu những vết thương sâu hoắm nhất của cuộc chiến. Nếu như đất nước được định nghĩa bằng chiều dài của những con sông hay độ cao của những dãy núi, thì với tôi, Việt Nam được đo bằng chiều sâu của lòng mẹ và chiều rộng của những nỗi đau hồi sinh từ máu lửa. Lịch sử dân tộc đã đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, để lại những con số thống kê khiến bất cứ trái tim nào cũng phải thắt nghẹn. Tính đến năm 2020, cả nước đã có 139.275 người mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”. Con số ấy không đơn thuần là số liệu hành chính; đó là 139.275 biểu tượng của sự tận hiến, là hàng trăm ngàn người con đã mãi mãi gửi thân xác vào lòng đất lạnh để đổi lấy màu xanh cho Tổ quốc ngày hôm nay.Giữa một tượng đài bất tử được khắc tạc bằng nước mắt ấy, câu chuyện về Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ (1904 – 2010) tại xã Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã trở thành một huyền thoại có thực, một đỉnh núi sừng sững của lòng yêu nước. Cuộc đời của mẹ Thứ là khúc tráng ca bi tráng nhất mà nhân loại từng chứng kiến. Mẹ có đến 12 người thân yêu nhất là liệt sĩ, trong đó gồm 9 người con trai, 1 người con rể và 2 người cháu ngoại. Hãy thử một lần nghiêng mình soi vào nỗi đau của mẹ: chín lần mang nặng đẻ đau, chín lần dứt ruột tiễn con đi theo tiếng gọi của non sông, và cả chín lần mẹ ngã quỵ khi nhận về những mảnh giấy báo tử lạnh lùng. Người ta vẫn thường nhắc đến mâm cơm trong căn nhà nhỏ của mẹ – một mâm cơm kỳ lạ mà xúc động đến gai người. Khi hoàng hôn buông xuống đất Quảng Nam khói lửa, mẹ Thứ vẫn lặng lẽ xếp thêm những chiếc bát, những đôi đũa thừa lên bàn ăn. Mẹ tin, và luôn muốn tin rằng, các con của mẹ chỉ đang đi chiến dịch chưa về, rằng một ngày nào đó tiếng cười trẻ trai sẽ lại làm rộn rã khoảng sân. Nỗi đau nén lại thành một niềm hy vọng linh thiêng, vượt lên trên mọi quy luật khắc nghiệt của chiến tranh. Nhưng lòng mẹ không chỉ biết khóc. Giữa vùng đất Điện Bàn cày xới vì bom đạn, ngôi nhà của mẹ là một pháo đài ngầm. Dưới nền nhà, mẹ đào 5 căn hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ, bộ đội thuộc Sư đoàn 2. Phía trên mặt đất, bóng dáng gầy guộc của người mẹ ngoài 60 tuổi là tấm lá chắn, là ánh mắt cảnh giới, chở che cho biết bao người con của Tổ quốc vượt qua lằn ranh sinh tử. Sự hy sinh của mẹ lớn lao đến mức người con gái duy nhất còn lại của mẹ – bà Lê Thị Trị – sau này cũng được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng khi dâng hiến cả chồng và hai con gái cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một gia đình, hai thế hệ mẹ anh hùng – đó là đỉnh cao của sự kiên cường Việt Nam. Mẹ Thứ đã đi trọn một thế kỷ cùng vận mệnh nước nhà. Mẹ tạ thế ở tuổi 106, nhưng khuôn mặt hằn sâu nếp nhăn thời gian và đôi mắt bao dung của mẹ đã được chọn làm nguyên mẫu để khắc tạc nên Tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng tại Núi Cấm, tỉnh Quảng Nam. Tượng đài được làm bằng đá hoa cương, nhưng lòng mẹ thì mềm mại như dòng Thu Bồn chở nặng phù sa, ôm trọn những linh hồn liệt sĩ vào lòng.Chiến tranh đã lùi xa, những hầm hào năm xưa nay đã xanh rì màu lúa xuân. Thế nhưng, bài học về lòng biết ơn chưa bao giờ cũ. Bước vào phòng thi hôm nay hay bước ra đường đời ngày mai, thế hệ trẻ chúng tôi luôn tự nhắc nhở bản thân: mỗi trang sách ta đọc, mỗi ước mơ ta theo đuổi đều được che chở bởi linh hồn của những người con đã ngã xuống và bằng cả cuộc đời hóa đá của những người mẹ anh hùng. Lòng biết ơn không nằm ở những lời ca tụng sáo rỗng, mà phải biến thành hành động để gìn giữ, dựng xây một Việt Nam tự cường, xứng đáng với từng giọt nước mắt khô cạn của Mẹ.


