Mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Lý
Lê Thị Lý (1922-1967) Về xã Xuân Tân, huyện Xuân Lộc theo sự chỉ dẫn của đồng chí Châu Ngọc Tự, Phó chủ tịch UBND xã, chúng tôi tìm đến gặp bác Vũ Hồng Sinh (Võ Văn Thông), người chiến sĩ du kích Ba Tơ anh dũng năm xưa. Khi biết chúng tôi đến để tìm hiểu cuộc đời của người mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Lý - người vợ, người đồng chí của mình, bác chỉ lên bàn thờ với một dãy ba tấm bằng “Tổ quốc ghi công” và nghẹn ngào nói :- Đó... còn gì nữa đâu... Chỉ sau những câu ngắn ngủi như vậy, đầu bác hơi gục xuống, đôi môi rung động và cổ họng như tắt nghẹn. Chúng tôi thầm ân hận. Có lẽ nỗi đau đớn nhất của cuộc đời đột ngột tái hiện làm bác xúc động. Nhưng rồi, bác đã gượng dậy rồi vơi giọng trầm buồn bác kể với chúng tôi: Vợ chồng bác quê ở xã Hành Thiện, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi - một vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Từ trước năm 1945, bác đã tham gia đội du kích Ba Tơ. Cách mạng tháng Tám thành công, rồi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, bác thoát ly gia đình đi kháng chiến làm huyện đội trưởng huyện Nghĩa Hành - Minh Long (Quảng Ngãi) và sau đó được điều động lên công tác ở Tây Nguyên. Từ đây tất cả gánh nặng gia đình đều trao lại cho một mình bác gái - Mẹ Lê Thị Lý: chăm sóc cha mẹ già, nuôi 3 đứa con còn thơ dại. Việc nước, việc nhà gánh nặng cả đôi vai. Tuy phải lo toan về sinh kế, nhưng mẹ vẫn không lơi nhiệm vụ, công tác của SÁNG NGỜI CHẤT NGỌC ANH HÙNG mình, mẹ là người đảng viên gương mẫu, người cán bộ phụ nữ hăng hái, tận tụy với phong trào kháng chiến ở địa phương. Năm 1954, kháng chiến chống Pháp thắng lợi, trong niềm vui chung của cả nước, gia đình mẹ cũng dạt dào niềm vui đoàn tụ. Vợ chồng con cái sau nhiều năm trời xa cách nay mới có dịp sum vầy. Thế nhưng, niềm vui đó chỉ là những tháng ngày ngắn ngủi. Nhiệm vụ của người cán bộ đảng viên còn hết sức nặng nề, khi cả miền Nam trong đó có quê hương mẹ vẫn nằm trong tay giặc. Một lần nữa, gia đình mẹ trở lại cảnh chia ly. Bác trai cùng người con lớn, anh Vũ Chuẩn, lên đường ra Bắc tập kết. Mẹ được tổ chức phân công bám trụ quê hương, bí mật củng cố cơ sở Đảng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Đêm chia tay, kẻ ở người đi với bao nỗi niềm lưu luyến. Nuốt nước mắt vào lòng, mẹ ôm chặt đứa con trai đầu và chỉ thốt được mấy câu trong tiếng nấc nghẹn ngào: “ Hai cha con đi chân cứng đá mềm, đừng lo gì cả, mẹ ở nhà đã có tổ chức, có bà con”. Cúi xuống hôn hai con nhỏ còn say trong giấc ngủ, lòng bác Sinh nhủ thầm: Ba đi hai năm nữa sẽ trở về với mẹ, với các con. Nhưng, không, cuộc chiến tranh quá ư cay nghiệt, bác có ngờ đâu phút chia tay hôm ấy cũng là phút chia lìa vĩnh viễn. Ở lại bám trụ quê hương, hoạt động cách mạng với một nách hai con thơ, đứa gái út mới tròn 2 tuổi, mẹ đã chịu đựng muôn vàn thử thách gian lao. Trong suốt những năm 1955 1959, với các chính sách “tố Cộng”, “diệt Cộng” vô cùng thâm độc của Mỹ Diệm, quê hương mẹ chìm trong máu và nước mắt. Bản thân mẹ hàng chục lần bị giặc bắt, giam cầm, 594 BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG TỈNH ĐỒNG NAI tra tấn. Vượt qua tất cả mẹ vẫn giữ vững ý chí cách mạng, vẫn là người cán bộ chủ chốt của địa phương. Sau phong trào Đồng Khởi (1960-1961), quê hưong mẹ là vùng tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Lực lượng cách mạng lớn mạnh nhanh chóng, mẹ được bầu vào Ban chấp hành Huyện ủy và được phân công phụ trách xã vùng giáp ranh huyện Nghĩa Hành. Theo chân mẹ, người con trai thứ hai là anh Vũ Đình Chi mới 15 tuổi cũng nằng nặc xin mẹ gia nhập bộ đội giải phóng trực tiếp cầm súng chiến đấu, diệt thù. Trải qua những năm tháng khó khăn, nhất là lúc quân Mỹ đổ vào đánh phá ác liệt vùng giáp ranh Quảng Ngãi (1966 1967), mẹ vẫn kiên cường đeo bám cùng với huyện ủy lãnh đạo phong trào kháng chiến huyện nhà. Đến năm 1967, người con trai mẹ, anh Vũ Đình Chi, trong một trận chống càn đã anh dũng hy sinh. Nhận được tin này, lòng mẹ đau như cắt, nhưng vì nhiệm vụ nặng nề của mình là một cán bộ lãnh đạo của huyện, mẹ đành câm lặng khóc thầm, không để tình cảm riêng tư ảnh hưởng đến đồng chí, đồng đội. Mẹ lại lao vào công tác. Một thời gian ngắn sau đó, đêm 12/4/1967, trên đường đi dự họp huyện ủy về mẹ bị địch phục kích và anh dũng hy sinh. Bà con đâu tranh quyết liệt với giặc đưa xác mẹ về làng chôn cất. Với 45 tuổi đời (1922-1967) và 20 tuổi Đảng (1947-1967), mẹ đã sống trọn nghĩa, vẹn tình với gia đình, quê hương và đất nước. Mẹ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng ngày 24/11/1994. Sau khi mẹ mất, người con gái út là chị Võ Thị Hạnh sống bơ vơ một mình nay đây mai đó, lãnh đạo của huyện cử cán bộ tìm đưa về căn cứ Huyện ủy làm văn thư. Noi gương mẹ, chị kiên quyết đề nghị với lãnh đạo xin được về bám cơ sở 595 SÁNG NGỜI CHẤT NGỌC ANH HÙNG hoạt động, xây dựng phong trào. Năm 1970, chị được bầu vào ban chấp hành Huyện ủy. Tháng 2/1971, trên đường đi công tác, chị lọt vào ổ phục kích của địch và anh dũng hy sinh. Thế là giặc Mỹ đã cướp mất tất cả những người thân yêu nhất của bác Vũ Hồng Sinh. Ngày thống nhất, bác trở lại quê hương, mái nhà xưa giờ đây là trảng cỏ chằng chịt hố đạn, hố bom. Mọi vật như xoay tròn, đảo lộn, mắt bác mờ đi, bên tai bác nghe văng vẳng đâu đây lời thì thầm của người vợ vọng về từ ngày chia tay 21 năm về trước.



