Mẹ Việt Nam Anh hùng

MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ DẠ

Mẹ Nguyễn Thị Dạ, sinh năm 1916, dân tộc Kinh, quê ở xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Mẹ sinh ra trong gia đình nông dân nghèo có 07 anh chị em, Mẹ là con thứ ba. Trước khi đi lấy chồng, Mẹ ở nhà làm ruộng giúp đỡ gia đình.

Bắc Ninh04/02/2026Ban Biên tập tổng hợp6 lượt xem0 lượt chia sẻ

MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ DẠ

Mẹ Nguyễn Thị Dạ, sinh năm 1916, dân tộc Kinh, quê ở xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Mẹ sinh ra trong gia đình nông dân nghèo có 07 anh chị em, Mẹ là con thứ ba. Trước khi đi lấy chồng, Mẹ ở nhà làm ruộng giúp đỡ gia đình.

Trưởng thành, Mẹ xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Tươi, người cùng quê. Mẹ sinh 03 người con (02 trai, 01 gái). Khi các con của Mẹ trưởng thành, Mẹ có 02 người con là đảng viên, 02 người con tham gia kháng chiến và cả 02 người con đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ.

Anh Nguyễn Văn Nhật, sinh năm 1939, là con cả của Mẹ, học lớp bình dân học vụ, anh ở nhà làm ruộng giúp đỡ gia đình. Trưởng thành, anh xây dựng gia đình với chị Giáp Thị Miễn, người quê xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang; vợ chồng anh sinh được 02 người con gái. Tháng 4 năm 1962, anh lên đường nhập ngũ tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sau khóa huấn luyện ngoài Bắc, anh được lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam. Ngày 23 tháng 8 năm 1968 (tức ngày 30 tháng 7 Mậu Thân), trong một trận chiến đấu với quân giặc, anh đã anh dũng hy sinh tại mặt trận phía Nam; đơn vị thuộc KT. Chức vụ trước khi hy sinh: Đại đội trưởng. Anh được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì, hạng Ba.

Anh Nguyễn Văn Bản, sinh năm 1944, là con thứ hai của Mẹ, học lớp 7/10, anh ở nhà làm ruộng giúp đỡ gia đình. Trưởng thành, anh xây dựng gia đình với chị Hà Thị Huyền, người quê Xương Giang, thành phố Bắc Giang; vợ chồng anh chị chưa có con. Tháng 02 năm 1965, anh từ biệt gia đình lên đường nhập ngũ tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sau khóa huấn luyện, anh được lệnh đi B vào chiến trường miền Nam. Ngày 04 tháng 4 năm 1973, trong một trận chiến đấu với quân giặc, anh đã anh dũng hy sinh tại mặt trận phía Nam. Cấp bậc, chức vụ trước khi hy sinh: Thượng sĩ, lái xe; đơn vị: K5. Năm 1975, anh được Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba. Hài cốt của liệt sỹ được gia đình đưa về an táng tại Nghĩa trang liệt sỹ xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Trong những năm kháng chiến, Mẹ tích cực tham gia các phong trào ở địa phương như lao động, sản xuất, đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến, động viên các con lên đường tòng quân bảo vệ quê hương, đất nước. Khi đất nước hòa bình, Mẹ cùng con cháu lao động, sản xuất, làm giàu cho quê hương, luôn là tấm gương sáng để con cháu học tập, noi theo. Năm 1991, Mẹ qua đời, hưởng thọ 75 tuổi.

Ghi nhận công ơn của Mẹ Nguyễn Thị Dạ đã có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc - có 02 người con đã anh dũng hy sinh, ngày 23 tháng 7 năm 2014, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số 1694/QĐ-CTN về việc truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” Nguyễn Thị Dạ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn