Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Đề – Người nữ cán bộ kiên cường, bất khuất
Mẹ Nguyễn Thị Đề, thường gọi là Tư Ao, sinh năm 1911, quê xã Vĩnh Thạnh, tỉnh Đồng Tháp. Mẹ tham gia cách mạng từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, từng làm Hội trưởng Phụ nữ xã, sau đó đảm nhiệm công tác giao liên, hậu cần, xây dựng cơ sở và vận động quần chúng đấu tranh. Chồng mẹ hy sinh năm 1948 khi đang vận chuyển gạo tiếp tế cho bộ đội. Sau Hiệp định Genève, mẹ không tập kết mà ở lại tiếp tục hoạt động cách mạng.
Mẹ nhiều lần lãnh đạo các cuộc đấu tranh chống đàn áp, chống bắt lính, đồng thời làm Tổ trưởng Tổ Quân báo, cung cấp nhiều thông tin quan trọng về địch cho cách mạng. Ngày 7/12/1967, trong một chuyến đi vào căn cứ, mẹ bị địch bắt, tra tấn và hy sinh. Bốn người con trai của mẹ cũng tham gia cách mạng và hy sinh, gồm Phan Ngọc Di, Phan Hoàng Mỹ, Phan Thành O và Phan Văn Đan; người con Phan Văn Của là thương binh. Ghi nhận những cống hiến và hy sinh to lớn của mẹ, năm 1995, Chủ tịch nước truy tặng mẹ danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”. Mẹ Nguyễn Thị Đề là biểu tượng của người phụ nữ Nam Bộ kiên cường, bất khuất, giàu lòng yêu nước và trọn đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng.
Mẹ Nguyễn Thị Đề, thường gọi là Tư Ao, sinh năm Tân Hợi 1911. Quê làng An Nhơn, tổng An Phong, quận Châu Thành tỉnh Sa Đéc. Cuối năm 1948, chuyển về sống ở làng Tân Thạnh, quận Lai Vung, tinh Sa Đéc (nay là ấp Vĩnh Lộc, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp). Mẹ tham gia công tác cách mạng từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, lúc đó làm Hội trưởng Phụ nữ xã An Nhơn. Đầu năm 1948, chồng mẹ, ông Phan Văn Nhỏ bị tàu của Pháp bắn chết trong lúc ông chở gạo đi tiếp tế cho bộ đội. Cuối năm 1948 mę cùng 6 người con tản cư lên Vĩnh Thạnh. Ở đây mẹ tham gia công tác giao liên và hậu cần cho bộ đội huyện đến năm 1954. Khi có Hiệp định Genève, mẹ không đi tập kết, mà ở lại tiếp tục công tác, được phân công hoạt động hợp pháp, xây dựng cơ sở, vận động, lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Trong nhiều cuộc biểu tình, đấu tranh đồi địch thi hành Hiệp định Genève, chống đàn áp khủng bố, chống bắt lính ở xã Vĩnh Thạnh, ở quận ly Lấp Vò, ở thị xã Sa Đéc và Vĩnh Long, mẹ đều nòng cốt hướng dẫn, lãnh đạo đấu tranh rất kiên quyết, bị địch vẽ khẩu hiệu lên nón, lên áo, mẹ cởi bỏ, không mắc cỡ, ở trần cũng đấu lý, khiến địch phải nể sợ. Mẹ còn hướng dẫn cho nhiều chị em, kể cả con dâu cách rải truyền đơn trên xe đò, xe hơi. Ngoài nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng, mẹ còn được Huyện đội Lấp Vò giao làm Tổ trưởng Tổ Quân báo. Mẹ thường xuyên nắm, cung cấp tình hình địch báo vào căn cứ, giúp cho việc tổ chức đối phó và đánh địch có hiệu quả.
Ngày 7/12/1967, trong chuyến mẹ đi vô căn cứ, địch phát hiện trên ghe chở nhiều vật dụng, đồ tiếp tế, chúng bắt đánh đập và trấn nước mẹ cho tới chết. Theo gương cha mẹ, 4 người con trai cũng hăng hái tham gia cách mạng và đã hy sinh. Năm 1948, con trai thứ sáu Phan Ngọc Di đi bộ đội, hy sinh. Năm 1962 Phan Hoàng Mỹ, con trai thứ hai, Chi uỷ viên, Trưởng Ban binh vận xã hy sinh. Cũng năm 1962, con trai thứ tư là Phan Thành 0, tập kết trở về Nam bị bịnh chết trên đường Trường Sơn. Năm 1960 con trai thứ năm Phan Văn Đan, xã đội trưởng hy sinh. Con trai thứ bảy Phan Văn Của, cũng là thương binh. Xét công lao của mẹ đóng góp cho cách mạng, năm 1995, Chủ tích nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng mẹ danh hiệu vinh dư Nhà nước BÀ ME VIỆT NAM ANH HÙNG


