Mẹ VIỆT NAM ANH HÙNG Nguyễn Thị Hậu -SỰ HI SINH TO LỚN
Gia đình của Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Hậu (sinh năm 1936, sống tại ấp Long Thạnh A, xã Long Hưng, người dân địa phương thường gọi là má Tư Hậu) là một trường hợp tiêu biểu như thế. Cuộc đời Mẹ Hậu gắn liền với những năm tháng chiến tranh khốc liệt.Nhưng điều khiến nhiều người nhắc đến gia đình Mẹ với tất cả sự trân trọng không chỉ là những mất mát riêng của Mẹ, mà còn bởi đây là một gia đình có đến 4 người được phong tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, gồm: Mẹ Nguyễn Thị Cho (là bà nội, có 2 người con trai là liệt sĩ), Mẹ Đoàn Thị Hương (là mẹ chồng, có 2 người con trai là liệt sĩ) và Mẹ Nguyễn Thị Thập, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (là cô ruột). Những mất mát nối tiếp nhau qua từng thế hệ, như những lớp sóng âm thầm dội vào cuộc đời của những người phụ nữ trong gia đình.

Năm nay, Mẹ Tư Hậu đã bước sang tuổi 90. Nhiều chuyện đã không còn nhớ rõ, nhưng mỗi khi nhắc về những năm tháng hào hùng, ký ức trong mẹ lại hiện lên rõ ràng, như chưa từng phai nhạt. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, mẹ sớm tham gia hoạt động từ năm 19 tuổi, làm giao liên tại địa phương. Năm 1959, mẹ bị địch bắt. Dù phải chịu nhiều đòn tra khảo của địch, mẹ vẫn một lòng giữ vững khí tiết của người cách mạng. Đến năm 1961, sau khi được địch thả, mẹ tiếp tục tham gia công tác quân báo của Tỉnh đội, sau đó chuyển về Quân khu. Trước đó, ngày 17/5/1959, mẹ đã vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, một dấu mốc thiêng liêng mà mẹ luôn khắc ghi trong tim.
Mẹ nhớ như in ngày đứng vào hàng ngũ của Đảng: “Do điều kiện chiến tranh, lại ở vùng địch tạm chiếm nên lễ kết nạp được tổ chức bên rặng trâm bầu. Dù diễn ra nhanh nhưng rất trang trọng. Khi đó, đồng chí Trần Văn Thời, Bí thư Chi bộ xã Long Hưng đọc quyết định, rồi mẹ đọc lời tuyên thệ. Mọi thứ đều diễn ra khẩn trương, bí mật, nhưng trong lòng mẹ dâng trào niềm tự hào”.
Chồng của mẹ là liệt sĩ Trần Hữu Tâm (sinh năm 1933), một chiến sĩ cách mạng thuộc một đơn vị của Quân khu. Nhắc về ngày cưới, giọng mẹ chùng xuống: “Lúc đó chiến tranh, đám cưới đơn sơ lắm, chỉ có hai bên gia đình chứng kiến rồi nên duyên vợ chồng. Xong đám cưới, ổng lại lên đường làm nhiệm vụ”.
Mẹ Tư Hậu có tám người con. Trong đó, người con trai thứ hai là liệt sĩ Trần Hữu Trí đã theo cha tham gia cách mạng từ năm 14 tuổi. Suốt bốn năm ròng rã, anh không một lần về thăm nhà vì hoàn cảnh chiến tranh và nhiệm vụ cách mạng. Mãi đến năm 1971, khi hai cha con chuyển về hoạt động trên địa bàn xã nhà, mẹ mới có dịp gặp lại con. Mẹ nghẹn ngào kể: “Khi hai cha con về tỉnh, mẹ chỉ kịp đến thăm được một lần… mà đâu ngờ đó lại là lần cuối cùng vợ chồng, mẹ con còn được gặp nhau”.
Cuối tháng 12/1971, địch tổ chức càn quét vào khu vực ấp Long Bình, xã Long Hưng nơi chồng và con mẹ đang đóng quân. Máy bay địch liên tục càn quét dữ dội. Mẹ đứng ngồi không yên nhưng không thể đến nơi vì sợ lộ, sợ bị phát hiện. “Sáng hôm sau, nghe đồng đội báo cha con nó hy sinh, thi thể được anh em giấu trong vườn hoang… Ruột gan mẹ như bị cắt thành từng khúc. Năm đó, Bé Ba mới 18 tuổi… đi bốn năm trời, chỉ gặp mẹ được đúng một lần…”, Mẹ nghẹn lại, ánh mắt xa xăm.
Chồng con hy sinh, mẹ nén đau thương, biến mất mát thành động lực để tiếp tục cống hiến cho cách mạng. Bảy người con còn lại, mẹ gửi cho nội ngoại chăm sóc, để rồi mãi đến ngày đất nước hòa bình, gia đình mới được sum họp. Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng những vết hằn mất mát vẫn còn nguyên trong lòng mẹ. Nhìn quê hương, đất nước hôm nay đổi thay từng ngày, ánh mắt mẹ rưng rưng: “Đất nước mình hòa bình, ngày càng đổi mới, phát triển, mẹ mừng lắm. Mừng vì những hy sinh, xương máu của các thế hệ đi trước không uổng phí, được thế hệ hôm nay tiếp nối, phát huy. Nhưng mẹ cũng thương những đồng chí, anh em, cô bác, người thân đã hy sinh trước ngày hòa bình, không kịp nhìn thấy quê hương đổi thay… Mẹ tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các thế hệ hôm nay sẽ tiếp tục xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, để mọi người dân đều được sống ấm no, hạnh phúc như ước nguyện thiêng liêng của những người đã ngã xuống”.


