Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ_Từ nỗi đau riêng đến dáng hình Tổ quốc - KHXH

Tôi từng đọc được một câu nói rất ngắn nhưng khiến lòng mình day dứt mãi: “Chín bát cơm dâng, mẹ xới phần ai?”. Chỉ một câu hỏi thôi mà như chứa đựng biết bao nỗi đau, mất mát của một đời người mẹ. Đó cũng là lúc tôi biết đến câu chuyện của Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ – người mẹ đã tiễn chín người con ruột, một người con rể và hai cháu ngoại ra đi vì độc lập của dân tộc.

Đồng Tháp16/06/2026Khoa Sư phạm Khoa học xã hội (Đoàn Trường Đại học Đồng Tháp)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

NHỮNG CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ_Từ nỗi đau riêng đến dáng hình Tổ quốc.

Tôi từng đọc được một câu nói rất ngắn nhưng khiến lòng mình day dứt mãi: “Chín bát cơm dâng, mẹ xới phần ai?”. Chỉ một câu hỏi thôi mà như chứa đựng biết bao nỗi đau, mất mát của một đời người mẹ. Đó cũng là lúc tôi biết đến câu chuyện của Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ – người mẹ đã tiễn chín người con ruột, một người con rể và hai cháu ngoại ra đi vì độc lập của dân tộc.

Sinh ra trong hòa bình, chiến tranh đối với tôi từ lâu chỉ là những trang sách lịch sử với những con số và sự kiện đã lùi xa. Tôi chưa từng nghe tiếng bom rơi, chưa từng phải chia tay người thân giữa ranh giới của sự sống và cái chết. Thế nhưng, khi đọc về cuộc đời của Mẹ Nguyễn Thị Thứ, chiến tranh bỗng hiện lên thật gần, không phải qua khói lửa chiến trường mà qua những khoảng trống trong một mái nhà, qua những lần người mẹ lặng lẽ chờ con rồi chấp nhận rằng con sẽ không bao giờ trở về nữa.

Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 tại Quảng Nam. Mẹ là một người phụ nữ nông dân bình dị như bao người mẹ Việt Nam khác. Mẹ cũng từng mong các con lớn lên khỏe mạnh, dựng vợ gả chồng, có cuộc sống bình yên bên gia đình. Nhưng đất nước chìm trong chiến tranh đã khiến những mong ước giản dị ấy trở thành điều xa xỉ. Hết người con này đến người con khác khoác ba lô lên đường cứu nước. Mẹ tiễn các con đi bằng tình yêu thương và niềm tin vào ngày đất nước độc lập, dù trong sâu thẳm trái tim, Mẹ hiểu rằng không phải cuộc chia tay nào cũng có ngày đoàn tụ.

Rồi những tờ giấy báo tử lần lượt được gửi về. Chín người con ruột, một người con rể và hai cháu ngoại của Mẹ đã anh dũng hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Tôi đã tự hỏi rất nhiều lần: làm sao một người mẹ có thể vượt qua được nỗi đau ấy? Chỉ cần tưởng tượng thôi, tôi cũng thấy tim mình thắt lại. Bởi trên đời này, có lẽ không có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau của một người mẹ phải tiễn biệt những đứa con do chính mình mang nặng đẻ đau.

Thế nhưng, điều khiến tôi kính phục Mẹ không chỉ là sự chịu đựng phi thường trước mất mát, mà còn là tấm lòng son sắt dành cho Tổ quốc. Mẹ hiểu rằng, sự hy sinh của các con mình không phải là vô nghĩa. Các con đã ngã xuống để đất nước được hồi sinh, để những thế hệ sau được lớn lên trong hòa bình. Có người từng nói: “Có những người mẹ sinh ra những người con cho gia đình, nhưng cũng có những người mẹ hiến dâng những người con ấy cho Tổ quốc.” Mẹ Nguyễn Thị Thứ chính là một người mẹ như thế.

Là một người trẻ của hôm nay, tôi bỗng thấy mình thật may mắn. Tôi được học tập dưới bầu trời hòa bình, được trở về nhà sau mỗi buổi học, được ngồi bên mâm cơm có đầy đủ những người thân yêu. Những điều tưởng như rất đỗi bình thường ấy lại là điều mà biết bao thế hệ đi trước đã phải đánh đổi bằng tuổi xuân, bằng máu và nước mắt để gìn giữ. Đằng sau nền độc lập hôm nay là những người lính mãi mãi nằm lại nơi chiến trường và những người mẹ mãi mãi sống trong nỗi nhớ con.

Tôi nghĩ đến Mẹ trong những năm tháng cuối đời. Liệu có những buổi chiều, Mẹ vẫn ngồi lặng trước hiên nhà, nhìn về con đường làng quen thuộc? Liệu Mẹ có vô thức chuẩn bị thêm vài chiếc bát trên mâm cơm như một thói quen chưa từng mất đi? Bởi tình mẫu tử vốn là điều thiêng liêng nhất. Dù thời gian có trôi qua bao lâu, dù chiến tranh đã lùi xa, trái tim của một người mẹ vẫn luôn hướng về những đứa con của mình.

Ngày nay, hình ảnh Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã trở thành nguyên mẫu của Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng tại Quảng Nam. Nhưng đối với tôi, Mẹ không chỉ là một biểu tượng được tạc vào đá. Mẹ là hiện thân của hàng ngàn bà mẹ Việt Nam đã âm thầm gánh chịu những mất mát lớn lao để đất nước được trường tồn. Nhắc đến Mẹ là nhắc đến sự hy sinh vô điều kiện, đến lòng yêu nước giản dị mà vĩ đại.

Có lẽ, điều mà câu chuyện về Mẹ để lại trong tôi không phải là sự bi thương, mà là lòng biết ơn. Bởi nhớ về quá khứ không phải để nuôi dưỡng nỗi buồn, mà để biết trân trọng hiện tại. Chúng tôi – những người trẻ lớn lên trong hòa bình – có thể không phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc như cha ông năm xưa, nhưng chúng tôi có trách nhiệm học tập, rèn luyện, sống tử tế và cống hiến bằng tất cả khả năng của mình.

“Chúng tôi lớn lên trong hòa bình, nhưng không được phép lớn lên trong sự lãng quên.” Lãng quên những hy sinh của các thế hệ đi trước cũng đồng nghĩa với việc đánh mất đi một phần cội nguồn của dân tộc. Bởi vậy, những câu chuyện thời hoa lửa cần được kể lại bằng trái tim biết ơn của thế hệ hôm nay, để mỗi người trẻ hiểu rằng hòa bình không phải là món quà vô điều kiện mà là thành quả của biết bao cuộc chia ly không có ngày gặp lại.

Khép lại những dòng viết này, tôi lại nhớ đến câu hỏi đầy ám ảnh: “Chín bát cơm dâng, mẹ xới phần ai?”. Câu hỏi ấy sẽ mãi không có lời đáp trọn vẹn. Nhưng có lẽ, cách trả lời đẹp nhất chính là sống xứng đáng với những gì mà Mẹ và biết bao người mẹ Việt Nam đã hy sinh cho đất nước này.

Bởi món nợ lớn nhất của tuổi trẻ hôm nay không phải là thành công thật sớm, mà là biết sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và Tổ quốc; để mỗi bước đi của chúng ta trong hòa bình đều là sự tiếp nối xứng đáng cho những hy sinh của các thế hệ cha anh đi trước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn