Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Xuân
Mẹ Trần Thị Xuân sinh năm 1920, quê quán tại ấp Tân Thiện, xã Tân Thành Bình. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước, Mẹ sớm thấm thía nỗi đau mất nước và cảnh lầm than của người dân dưới ách áp bức. Khi trưởng thành, Mẹ lập gia đình, có chồng và hai người con. Trong bối cảnh đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, cả gia đình Mẹ đều một lòng theo cách mạng. Người chồng đầu tiên của Mẹ là ông Trần Phú Quí, sinh năm 1917, quê quán ấp Đồng Kinh, xã Vĩnh Hòa, h
Trong những năm tháng chiến tranh gian khổ của dân tộc, có những người mẹ đã âm thầm chịu đựng mọi mất mát, hy sinh trọn đời mình và những người thân yêu nhất cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Xuân là một trong những người mẹ tiêu biểu như thế – cuộc đời Mẹ là câu chuyện thời hoa lửa thấm đẫm nước mắt, nhưng rực sáng niềm tin và lòng yêu nước son sắt.
Mẹ Trần Thị Xuân sinh năm 1920, quê quán tại ấp Tân Thiện, xã Tân Thành Bình. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước, Mẹ sớm thấm thía nỗi đau mất nước và cảnh lầm than của người dân dưới ách áp bức. Khi trưởng thành, Mẹ lập gia đình, có chồng và hai người con. Trong bối cảnh đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, cả gia đình Mẹ đều một lòng theo cách mạng.
Người chồng đầu tiên của Mẹ là ông Trần Phú Quí, sinh năm 1917, quê quán ấp Đồng Kinh, xã Vĩnh Hòa, huyện Chợ Lách. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động bí mật sau khi Đảng được thành lập năm 1945. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đã hy sinh năm 1947 khi đang làm nhiệm vụ tại xã Phú Phụng, huyện Chợ Lách, lúc đó giữ chức vụ Bí thư xã Phú Phụng. Sự hy sinh của chồng để lại cho Mẹ Xuân nỗi đau lớn, nhưng cũng hun đúc thêm ở Mẹ ý chí kiên cường, tiếp tục gắn bó với con đường cách mạng.
Sau khi chồng mất, Mẹ Trần Thị Xuân đưa các con trở về quê sinh sống. Sau này, Mẹ tái hôn với ông Lê Văn Thông, sinh năm 1919, quê quán ấp Tân Thiện, xã Tân Thành Bình. Vợ chồng Mẹ tiếp tục xây dựng gia đình và sinh thêm năm người con (gồm hai trai và ba gái). Ông Lê Văn Thông mất năm 1986 do bệnh, để lại Mẹ tiếp tục gánh vác gia đình trong những năm cuối đời.
Là người mẹ giàu lòng yêu nước, Mẹ Trần Thị Xuân luôn giáo dục các con sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng. Anh Lê Văn Vinh, sinh năm 1949, tham gia cách mạng khi mới 15 tuổi, làm giao liên, sau đó tham gia du kích và trực tiếp chiến đấu trong nhiều trận đánh ác liệt. Ngày 10/8/1968, anh đã anh dũng hy sinh do bị sụp hầm tại ấp Tân Thiện, xã Tân Thành Bình, khi đang giữ chức vụ Xã đội trưởng. Người con trai tiếp theo là anh Lê Văn Minh, sinh năm 1950, tham gia làm giao liên khi 15 tuổi, đến năm 1966 nhập ngũ bộ đội tỉnh Bến Tre, mang cấp bậc Thượng sĩ. Trong trận Tết Mậu Thân năm 1968, khi tham gia chiến đấu đánh vào thị xã Bến Tre, anh đã anh dũng hy sinh và không tìm được thi thể.
Không chỉ là hậu phương vững chắc cho con em ra chiến trường, nhà Mẹ Trần Thị Xuân còn là một cơ sở cách mạng bí mật, nơi nuôi giấu cán bộ, che chở cho lực lượng cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Với những đóng góp thầm lặng nhưng vô cùng to lớn ấy, năm 2001, Mẹ được Quỹ Đền ơn đáp nghĩa tỉnh Bến Tre xây dựng nhà tình nghĩa, trở thành nguồn động viên tinh thần lớn lao trong những năm tháng cuối đời.
Ghi nhận những hy sinh cao cả của Mẹ và gia đình, ngày 9/3/2004, Đảng và Nhà nước đã trao tặng danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” cho Mẹ Trần Thị Xuân. Mẹ qua đời ngày 30/10/2004, khép lại một cuộc đời nhiều đau thương nhưng vô cùng cao đẹp.
Câu chuyện thời hoa lửa về Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Xuân không chỉ là câu chuyện của riêng một gia đình, mà còn là biểu tượng thiêng liêng cho hàng ngàn bà mẹ Việt Nam đã hiến dâng những gì quý giá nhất cho Tổ quốc. Tấm gương hy sinh, lòng yêu nước và đức kiên trung của Mẹ sẽ mãi mãi được khắc ghi trong lòng quê hương và các thế hệ hôm nay, mai sau.



