MẸ VNAH ĐOÀN THỊ LAN
MẸ VNAH ĐOÀN THỊ LAN
Mẹ Đoàn Thị Lan, sanh năm 1921 ở làng Tân Thành, quận Hồng Ngự, tỉnh Châu Đốc, nay là xã Tân Thành A, huyện Tân Hồng, trong một gia đình nông dân đông con, gồm hai trai và sáu gái.
Cha là Đoàn Văn Chương, mẹ là Nguyễn Thị Vàng. Ông Đoàn Văn Chương là một nông dân theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (thuộc nhánh Bảy Nhãn), chí thú làm ăn, quanh năm chăm nom ruộng đồng, đào đìa bắt cá; nuôi nấng, giáo dục con cái ăn ở cho phải đạo. Các con của ông khi trưởng thành, có đến năm người tham gia hoạt động cách mạng (Đoàn Văn Thượng, Đoàn Minh Định, Đoàn Thị Thanh (tự Vấn), Đoàn Thị Kế và Đoàn Thị Nhân) và giữ chức vụ then chốt trong các tổ chức cách mạng của tỉnh. Ba người con còn lại là Đoàn Thị Ánh, Đoàn Thị Lan và Đoàn Thị Thị dù không trực tiếp tham gia hoạt động, nhưng tích cực ủng hộ, nuôi chứa cán bộ, du kích địa phương qua hai thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Riêng mẹ Đoàn Thị Lan là con gái thứ ba trong gia đình đông con, mẹ thường xuyên phụ giúp gia đình từ công việc bếp núc, heo gà... trong nhà đến việc ruộng đồng, cá mắm... quanh năm không hở tay. Năm 1945, mẹ lập gia đình với ông Trang Văn Hy. Ông Hy vốn họ Ngô, quê ở Chợ Lách (Bến Tre), nhà nghèo, lưu lạc đến tận Đồng Tháp Mười tìm phương, sanh sống, được một gia đình họ Trang bảo bọc chở che, nhận làm con nuôi; nên ông lấy theo họ cha nuôi từ đó. Nhưng nhà họ Trang cũng nghèo mag 1, C khổ như bao nhiêu nông dân lúc bấy giờ, nên ông Hy phải đi làm thuê làm mướn. Lúc đó có tên địa chủ Tây tên Roda mua lại ruộng đất của Hội Canh Nông Nam Kỳ ở làng Tân Thành, rồi đưa công nhân đến canh tác. Trong số công nhân đó có ông Trang Văn Hy. Hai vợ chồng lấy nhau không bao lâu, đến giữa năm 1945 có bạo loạn của người Campuchia ở Tà Nu - Cá Chốt đe dọa tình hình an ninh biên giới, cả gia đình mẹ Lan tản cư về Núi Tượng (Châu Đốc).
Đến năm 1946, gia đình trở về quê cũ. Được cha mẹ giúp vốn, gia đình mẹ Lan tạo dựng được 14 khẩu đìa và vài công ruộng. Cũng như bao nhiêu nông dân nghèo khác ở Tân Thành, hai vợ chồng đầu tắt, mặt tối canh tác mấy công lúa mùa lấy gạo nuôi con, thời gian còn lại là đánh bắt cá, làm đìa. Cá sống thì bán tươi, cá chết thì làm khô, làm mắm, nấu dầu..., công việc tất bật quanh năm. Gia đình có 7 người con: hai gái năm trai.
Dù sống trong hoàn cảnh xã hội dưới chế độ cũ lúc bấy giờ, vợ chồng mẹ Lan vẫn cố gắng động viên các con đi học, nên các con đều biết đọc, biết viết. Với truyền thống gia đình, hơn nữa lại sống trong vùng cách mạng, do đó các con đều tham gia cách mạng. Riêng mẹ Lan ngoài việc sản xuất, nuôi dạy con, mẹ còn làm hầm bí mật trong ruộng nuôi giấu cán bộ, du kích, đi thơ, tham gia biểu tình đấu tranh trực diện với kẻ thù.
Đến năm 1975, gia đình mẹ có ba người con hy sinh. Anh Trang Văn Ngọc, con trưởng, sanh năm 1945, tham gia cách mạng từ năm 14 tuổi. Đến năm 1959 thoát ly, vào Đội Đặc công tỉnh. Năm 1967 là Trung đội phó Đặc công, hy sinh trong lúc tấn công sân bay của địch ở Tân Tịch (thị xã Cao Lãnh). Anh Trang Văn Hiếu, sanh năm 1950, con thứ tư, tham gia cách mạng năm 1966, Trung đội phó Bộ đội địa phương huyện Hồng Ngự, hy sinh ngày 23 tháng 8 năm 1971. Anh Trang Văn Khiêm, sanh năm 1953, con thứ năm, tham gia cách mạng năm 1970, địa phương quân, hy sinh tại Cầu Muống xã Thường Thới Hậu, Hồng Ngự ngày 6 tháng 2 năm 1974. Sự ra đi vĩnh viễn của 3 người con là nỗi mất mát vô cùng lớn lao của người mẹ. Nhưng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, mẹ Đoàn Thị Lan vẫn cắn răng, nuốt lệ vào lòng cho các người con khác tiếp tục lên đường. Sau ngày đất nước giải phóng, mẹ vẫn khỏe mạnh, vui vẻ sống với con cháu.
Do công lao cống hiến to lớn, năm 1994 mẹ được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG. Mẹ bịnh già, từ trần ngày 18 tháng 2 năm 2007 (nhằm mùng 2 tết Đinh Hợi), hưởng thọ 87 tuổi.



