Mẹ VNAH Lê Thị Soi - Mẹ vẫn đợi các con giữa mùa lúa chín
Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Soi sinh năm 1915, quê xã Xuân Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Mẹ kết hôn với ông Lê Văn Nghi và có tám người con. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm người con của Mẹ lần lượt tham gia cách mạng; trong đó hai người con trai là liệt sĩ Lê Văn Thập và Lê Văn Thất đã anh dũng hy sinh trên các chiến trường. Năm 2014, Mẹ được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Những năm cuối đời, Mẹ chuyển vào thành phố Vũng Tàu sinh sống cùng

Trên mảnh đất Xuân Sơn, nơi những cánh đồng lúa trải dài mỗi mùa gió nam thổi về, người dân vẫn nhắc đến Mẹ Lê Thị Soi bằng tất cả sự kính trọng.
Không phải vì Mẹ được phong tặng danh hiệu cao quý.
Mà bởi cả cuộc đời Mẹ là những lần tiễn con đi trong nước mắt và đợi con trở về trong hy vọng.
Mười tám tuổi, Mẹ nên duyên với ông Lê Văn Nghi.
Hai vợ chồng chăm chỉ làm lụng, dựng xây một mái ấm với tám người con.
Cuộc sống nơi làng quê Thanh Hóa còn nhiều thiếu thốn, nhưng tiếng cười trẻ nhỏ luôn làm ngôi nhà nhỏ thêm ấm áp.
Rồi chiến tranh lan rộng.
Những lá thư kêu gọi thanh niên lên đường bảo vệ Tổ quốc được đọc vang khắp làng.
Các con của Mẹ lần lượt trưởng thành.
Người con trai cả Lê Văn Thất là người đầu tiên viết đơn tình nguyện nhập ngũ.
Ngày con khoác ba lô lên đường, Mẹ thức từ rất sớm.
Mẹ gói cho con nắm cơm, ít muối vừng và chiếc khăn tay tự may.
Đứng trước cổng nhà, Mẹ vuốt lại cổ áo cho con rồi khẽ nói:
"Đi vì nước thì mẹ không giữ. Chỉ mong con sống xứng đáng với quê hương."
Người con cúi đầu chào Mẹ.
Bóng người lính trẻ khuất dần sau con đường làng.
Ít lâu sau, người con trai thứ hai Lê Văn Thập cũng tiếp bước anh lên đường nhập ngũ, thuộc Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 141, Sư đoàn 7.
Hai người con gái của Mẹ là Lê Thị Gia và Lê Thị Dâu cũng tình nguyện tham gia lực lượng Thanh niên xung phong, góp sức trên tuyến hậu cần phục vụ chiến trường.
Mỗi lần có thêm một người con rời nhà, Mẹ lại đứng rất lâu nơi đầu ngõ.
Người hàng xóm hỏi:
"Mẹ không lo sao?"
Mẹ mỉm cười:
"Lo chứ... nhưng nếu ai cũng giữ con ở nhà thì ai sẽ giữ nước."
Những lá thư từ chiến trường là niềm vui lớn nhất của Mẹ.
Có bức thư chỉ vài dòng:
"Mẹ đừng lo. Con vẫn khỏe. Đơn vị vừa lập công."
Mẹ đọc đi đọc lại.
Gấp cẩn thận.
Cất trong chiếc hòm gỗ như cất giữ một phần hơi ấm của các con.
Tháng 9 năm 1970, người cán bộ xã lặng lẽ bước vào sân.
Nhìn nét mặt ông, Mẹ hiểu ngay có chuyện chẳng lành.
Tin báo:
Liệt sĩ Lê Văn Thập đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Sa Mát, Tây Ninh khi đang làm nhiệm vụ.
Mẹ cầm tờ giấy báo tử mà đôi bàn tay run lên.
Đêm ấy, Mẹ ngồi rất lâu trước bàn thờ.
Không khóc thành tiếng.
Chỉ khẽ nói:
"Con đã hoàn thành lời hứa với mẹ."
Nỗi đau ấy chưa kịp nguôi.
Những năm sau chiến tranh kết thúc, cả gia đình vẫn mong chờ người con trai cả trở về.
Nhưng rồi đầu năm 1977, Mẹ nhận thêm một tin dữ.
Lê Văn Thất đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ ở mặt trận Tây Nam.
Hai lần nhận giấy báo tử.
Hai người con mãi mãi không trở về.
Điều khiến Mẹ đau đáu nhất là đến nay gia đình vẫn chưa tìm được hài cốt của cả hai người con.
Mỗi năm đến ngày giỗ, Mẹ vẫn bày hai bát cơm, hai đôi đũa trên mâm cúng.
Mẹ bảo với các cháu:
"Các bác chưa về được thì bà vẫn chờ."
Sau ngày đất nước thống nhất, quê hương đổi mới từng ngày.
Những con đường đất đỏ đã thành đường bê tông.
Những cánh đồng bom cày đạn xới ngày nào nay phủ màu xanh của lúa.
Nhìn quê hương đổi thay, Mẹ thường nói:
"Các con hy sinh không uổng."
Năm 2014, khi nhận tin được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Mẹ chỉ lặng lẽ thắp hương lên bàn thờ các con.
Mẹ nói với người thân:
"Danh hiệu này là của những đứa con đã nằm lại."
Những năm cuối đời, Mẹ vào thành phố Vũng Tàu sống cùng con cháu.
Dẫu xa quê, Mẹ vẫn luôn nhắc về cánh đồng Xuân Sơn, về con đường làng nơi từng tiễn các con lên đường nhập ngũ.
Mỗi khi thấy lúa chín vàng trên tivi hay trong những bức ảnh người thân gửi về, Mẹ lại mỉm cười hiền hậu.
Có lẽ trong lòng Mẹ, những người con năm nào vẫn đang trở về giữa mùa lúa chín, với nụ cười tuổi đôi mươi còn mãi không già.


