Người có công giúp đỡ cách mạng

Mẹ VNAH Nguyễn Thị Tư - Người mẹ không kịp khóc

Là người nhiều năm công tác cùng mẹ Nguyễn Thị Tư trên các tuyến hậu cần vùng chiến khu Vĩnh Cửu, ông Nguyễn Văn Bé luôn khâm phục nghị lực phi thường của người nữ đảng viên cộng sản. Chứng kiến mẹ lần lượt mất mẹ ruột, chồng và hai người con trai trong chiến tranh nhưng vẫn tiếp tục gùi gạo, tải đạn, hoàn thành mọi nhiệm vụ, ông hiểu vì sao đồng đội vẫn gọi mẹ là "người mẹ không biết gục ngã".

TP. Hồ Chí Minh06/07/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Mẹ VNAH Nguyễn Thị Tư - Người mẹ không kịp khóc

Ông Nguyễn Văn Bé vẫn còn giữ chiếc bi đông cũ mà má Nguyễn Thị Tư từng dùng trong những chuyến công tác năm xưa. Mỗi lần nhìn lại, ông lại nhớ đến dáng người phụ nữ nhỏ nhắn, chiếc khăn rằn vắt trên vai, lặng lẽ băng qua những cánh rừng Bàu Cá, Bàu Hàm, Hố Cạn, Trà Cổ hay Trảng Bom để đưa từng bao gạo, từng thùng thuốc đến cho bộ đội. Với ông, má Tư không chỉ là một cán bộ hậu cần giỏi mà còn là biểu tượng của sự kiên cường trước những mất mát không gì bù đắp nổi. Má Nguyễn Thị Tư sinh năm 1916 tại Tân Định, quận Châu Thành. Sau năm 1954, má chính thức tham gia hoạt động cách mạng. Đến năm 1961, má thoát ly gia đình để hoạt động toàn thời gian và một năm sau vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Bé kể rằng má thường nhắc về buổi lễ kết nạp rất giản dị giữa rừng. Không cờ hoa, không bàn ghế, chỉ có lá cờ Đảng được treo trên một thân cây và lời tuyên thệ vang lên giữa tiếng gió rừng. Sau buổi lễ ấy, má nói với đồng đội: "Đã là đảng viên thì việc khó đến đâu cũng phải làm cho bằng được." Từ đó, hầu như tuyến hậu cần nào của huyện Vĩnh Cửu cũng in dấu chân má. Ban ngày tránh địch, ban đêm hành quân. Có khi phải gùi hàng chục kilôgam gạo, muối, thuốc men vượt qua những đoạn đường ngập nước hoặc băng qua vùng địch kiểm soát. Ông Bé kể rằng nhiều lần cả tổ phải nằm im hàng giờ dưới hầm tránh trực thăng quần thảo, nhưng khi trời vừa sáng, má lại đứng dậy gùi hàng đi tiếp như chưa hề trải qua hiểm nguy. Ít ai biết rằng phía sau sự bình thản ấy là những mất mát quá lớn của một người phụ nữ. Sau Cách mạng Tháng Tám, mẹ ruột của má bị thực dân Pháp bắt gặp khi đang tiếp tế cho chiến khu và bị chúng thiêu sống. Chưa nguôi nỗi đau ấy thì chồng má, ông Nguyễn Văn Xíu, trong một chuyến vận chuyển lương thực cho cách mạng bị địch bắn trọng thương rồi tra tấn đến chết. Ông Bé kể rằng có lần ông hỏi vì sao má vẫn có thể tiếp tục công tác sau những biến cố ấy. Má chỉ lặng lẽ trả lời: "Nếu mình dừng lại thì sự hy sinh của họ sẽ trở nên vô nghĩa." Nỗi đau lớn nhất vẫn còn ở phía trước. Năm 1965, người con trai cả Nguyễn Văn Được, chiến sĩ quân giới U1, anh dũng chiến đấu đến viên đạn cuối cùng rồi hy sinh. Kẻ thù điên cuồng đến mức chặt đầu anh đem bêu trên ngọn cây nhằm uy hiếp tinh thần lực lượng cách mạng. Tin dữ truyền về đơn vị khiến ai cũng lặng người. Ông Bé nhớ hôm ấy má vẫn lặng lẽ chia gạo cho từng tổ công tác như thường lệ. Đến tối, khi mọi người đã ngủ, ông mới thấy má ngồi thật lâu trước ánh đèn dầu, tay nắm chặt chiếc khăn rằn của con nhưng đôi mắt vẫn khô. Má từng nói với ông Bé: "Nước mắt để trong lòng thôi, còn việc của đơn vị thì không được chậm." Câu nói ấy trở thành điều mà nhiều cán bộ hậu cần sau này luôn ghi nhớ. Sáu năm sau, chiến tranh lại cướp đi người con trai thứ hai là Nguyễn Văn Ngọc. Trong một chuyến công tác, anh rơi vào ổ phục kích của địch và anh dũng hy sinh. Thi hài của anh không bao giờ được tìm thấy. Đó là lần thứ hai má nhận giấy báo tử của con. Nhưng cũng như lần trước, má vẫn tiếp tục công việc, tiếp tục gùi gạo, chuyển thuốc, chăm lo từng bữa ăn cho bộ đội. Ông Bé kể rằng chính sự kiên cường của má đã tiếp thêm sức mạnh cho cả đơn vị. Những lúc thiếu lương thực, má luôn là người nhường phần cơm của mình cho thương binh hoặc chiến sĩ trẻ. Có người gọi má là "má Tư hậu cần", có người gọi là "má của chiến khu". Dù cách gọi khác nhau, tất cả đều xuất phát từ lòng kính trọng dành cho người phụ nữ suốt đời âm thầm cống hiến. Sau ngày đất nước thống nhất, má vẫn tiếp tục công tác trong lĩnh vực hậu cần cho đến khi nghỉ hưu. Những phần thưởng như danh hiệu Chiến sĩ thi đua huyện Vĩnh Cửu, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng, Huân chương Kháng chiến chống MỹHuân chương Độc lập lần lượt được trao, nhưng ông Bé nói rằng má chưa bao giờ xem đó là điều đáng tự hào nhất. Điều má luôn nhắc đến là niềm vui được chứng kiến đất nước hòa bình – điều mà mẹ, chồng và hai người con của má đã đánh đổi bằng chính mạng sống. Năm 1995, Nhà nước phong tặng má Nguyễn Thị Tư danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Ba năm sau, má thanh thản qua đời, khép lại cuộc đời của một người nữ đảng viên suốt đời tận tụy với cách mạng. Khép lại câu chuyện, ông Nguyễn Văn Bé xúc động nói: "Trong đời tôi, chưa từng thấy người mẹ nào chịu nhiều đau thương như má Tư. Mẹ ruột bị thiêu sống, chồng bị giết, hai người con lần lượt hy sinh, vậy mà má vẫn không rời vị trí, vẫn gùi gạo cho bộ đội cho đến ngày đất nước thống nhất. Có người hỏi vì sao má không khóc. Tôi nghĩ không phải má không biết khóc, mà bởi nước mắt của má đã hóa thành nghị lực để bước tiếp trên con đường cách mạng."

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn