Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ VNAH Phạm Thị Thìn - Năm mươi năm chờ một bữa cơm đoàn viên

Mẹ Việt Nam Anh hùng Phạm Thị Thìn sinh năm 1923, quê tại thôn Phú Sơn 3, xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Mẹ có chồng là liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quảng, cán bộ hoạt động cách mạng hy sinh cuối năm 1969, và người con trai đầu liệt sĩ Nguyễn Đảng, hy sinh năm 1972 tại chiến trường Quảng Đà. Đến nay, hài cốt của người con vẫn chưa được tìm thấy. Suốt hơn nửa thế kỷ, Mẹ vẫn đau đáu một ước nguyện giản dị: mong con được trở về với gia đình.

TP. Hồ Chí Minh03/07/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Mẹ VNAH Phạm Thị Thìn - Năm mươi năm chờ một bữa cơm đoàn viên

Người dân Hòa Khương vẫn quen gọi Mẹ bằng cái tên gần gũi:

Mẹ Thìn.

Ở tuổi ngoài một trăm, mái tóc Mẹ đã bạc như mây.

Đôi mắt không còn tinh anh như thuở trước.

Nhưng mỗi lần nhắc đến chồng và người con trai đầu, ký ức trong Mẹ vẫn nguyên vẹn như mới hôm qua.

Trong căn nhà nhỏ, trên bàn thờ luôn nghi ngút khói hương.

Hai tấm di ảnh đặt cạnh nhau.

Một là chồng.

Một là con.

Mỗi sáng, Mẹ đều thắp nén nhang rồi ngồi rất lâu trước bàn thờ.

Không phải để than khóc.

Mà để trò chuyện với những người thân yêu chưa một ngày rời khỏi trái tim mình.

Những năm kháng chiến chống Mỹ, vùng Hòa Vang là địa bàn ác liệt.

Chồng Mẹ là Nguyễn Ngọc Quảng, cán bộ cách mạng của địa phương, thường xuyên bám cơ sở, hoạt động bí mật.

Có những đêm ông đi rồi nhiều ngày mới trở về.

Mỗi lần tiễn chồng, Mẹ chỉ dặn:

"Ông cứ yên tâm lo việc nước. Nhà đã có tôi."

Cuối năm 1969, trong một lần ở lại cơ sở làm nhiệm vụ, ông Quảng cùng nhiều đồng đội bị quân địch tập kích và anh dũng hy sinh.

Nghe tin báo, Mẹ như chết lặng.

Không tin chồng đã đi mãi.

Mẹ chạy đến nơi các liệt sĩ nằm lại.

Giữa rất nhiều thi thể, Mẹ lặng lẽ nhận ra chồng mình.

Chính tay Mẹ cùng bà con khiêng ông về lo hậu sự.

Nỗi đau ấy theo Mẹ suốt cả cuộc đời.

Mất chồng, gánh nặng gia đình dồn lên vai người phụ nữ với chín người con.

Cuộc sống vô cùng thiếu thốn.

Nhưng Mẹ chưa từng than thân trách phận.

Điều khiến Mẹ tự hào là các con vẫn tiếp tục nối chí cha.

Người con trai đầu Nguyễn Đảng lên đường tham gia lực lượng vũ trang Quảng Đà.

Ngày tiễn con, Mẹ gói cho con nắm cơm, buộc chiếc khăn rằn lên vai rồi nắm chặt bàn tay con:

"Cha con đã hy sinh. Con hãy sống xứng đáng với cha."

Người con trai mỉm cười.

Rồi khuất dần sau con đường làng.

Đó là lần cuối cùng Mẹ được nhìn thấy con.

Suốt gần năm năm, Mẹ chỉ biết tin con qua đồng đội.

Không có lá thư nào còn giữ được.

Ba lần giặc đốt nhà, mọi kỷ vật đều hóa thành tro bụi.

Nhưng trong lòng Mẹ, hình ảnh người con trai trẻ vẫn chưa bao giờ phai nhạt.

Năm 1972, giữa lúc chiến trường Quảng Đà đang vô cùng ác liệt, Nguyễn Đảng anh dũng hy sinh.

Tin dữ đến với Mẹ như thêm một nhát cắt vào trái tim vốn đã đầy thương tích.

Ngày nhận giấy báo tử, Mẹ không còn khóc thành tiếng.

Mẹ chỉ ôm tấm ảnh của con vào lòng rồi lặng lẽ thắp một nén hương.

Chiến tranh kết thúc.

Đất nước thống nhất.

Nhiều gia đình đón con trở về.

Riêng Mẹ vẫn lặng lẽ chờ.

Chờ một tin tức.

Chờ một người chỉ đường đến nơi con nằm.

Nhưng năm tháng trôi qua, gia đình vẫn chưa tìm được hài cốt của liệt sĩ Nguyễn Đảng.

Mỗi năm đến ngày 27 tháng 7 hay ngày giỗ, Mẹ vẫn chuẩn bị mâm cơm đủ đầy.

Có cá kho.

Có bát canh.

Có chén cơm trắng còn bốc khói.

Mẹ nhìn lên bàn thờ rồi khẽ nói:

"Nhà đông, cơm ngon như ri mà thiếu cha mi, thiếu anh Hai. Thằng Hai hơn năm mươi năm rồi vẫn chưa chịu về ăn cơm với mẹ..."

Câu nói ấy khiến những người có mặt không cầm được nước mắt.

Có lần, một đoàn học sinh đến thăm.

Một em nhỏ hỏi:

"Mẹ còn mong điều gì nữa không?"

Mẹ nhìn xa xăm rồi đáp:

"Mẹ chỉ mong tìm được nơi con nằm. Để cha con được gần nhau."

Ước nguyện của Mẹ không lớn lao.

Chỉ là mong một gia đình được đoàn viên.

Dẫu sự đoàn viên ấy chỉ diễn ra trong nghĩa trang.

Ở tuổi ngoài một trăm, Mẹ vẫn nhớ rất rõ khuôn mặt chồng, nụ cười của người con trai đầu và con đường làng ngày tiễn họ lên đường.

Chiến tranh đã lùi xa.

Nhưng với Mẹ, thời hoa lửa chưa bao giờ thật sự khép lại.

Bởi ở đâu đó giữa núi rừng Quảng Đà, vẫn còn một người con mà Mẹ chưa thể đón về.

Và trong căn nhà nhỏ ở Hòa Khương, vẫn còn một người mẹ ngày ngày chờ đợi bằng tất cả tình yêu thương của mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn