Mẹ VNAH Thới Thị Sang -
Là người từng nhiều năm hoạt động trên chiến trường Định Quán, ông Nguyễn Văn Bình luôn khắc ghi hình ảnh Mẹ Việt Nam Anh hùng Thới Thị Sang – người mẹ đã ba lần tiễn con vào chiến khu, ba lần nhận tin các con anh dũng hy sinh. Dẫu bị địch bắt giam, tra khảo và liên tiếp chịu những mất mát quá lớn, mẹ vẫn một lòng son sắt với cách mạng cho đến ngày đất nước thống nhất.

Mỗi dịp trở lại vùng Suối Tre, thành phố Long Khánh, ông Nguyễn Văn Bình đều ghé thắp nén hương trước bàn thờ Mẹ Việt Nam Anh hùng Thới Thị Sang. Trong ký ức của ông, mẹ Sang không phải người nói nhiều. Gương mặt lúc nào cũng hiền từ, nhưng ánh mắt lại chứa đựng một nghị lực phi thường. Ông thường nói với lớp trẻ rằng, nếu muốn hiểu thế nào là sự hy sinh thầm lặng của hậu phương, hãy nghe câu chuyện về người mẹ ấy.
Mẹ Thới Thị Sang sinh năm 1920 tại vùng quê nghèo Đức Hiệp, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, mẹ lớn lên trong cảnh thiếu ăn, thiếu mặc, quanh năm làm thuê làm mướn để nuôi các em. Năm 1946, theo chuyến tàu xuôi Nam, mẹ đến Long Khánh lập nghiệp và xem nơi đây là quê hương thứ hai của mình. Sau khi kết hôn với ông Nguyễn Văn Cầm – một công nhân cao su gốc Huế – hai vợ chồng vừa lao động, vừa âm thầm tham gia công tác giao liên, vận chuyển lương thực và thuốc men cho lực lượng kháng chiến.
Theo lời ông Bình, suốt những năm chống thực dân Pháp, gia đình mẹ phải liên tục thay đổi nơi ở để tránh sự truy lùng của địch. Từ Cẩm Mỹ đến Ông Quế rồi An Lộc, ở đâu có cán bộ Việt Minh hoạt động, ở đó đều có dấu chân của mẹ. Có những đêm mưa rừng tầm tã, mẹ vẫn lặng lẽ gùi gạo, mang thuốc vượt qua các chốt gác. Mẹ thường bảo rằng người lính ngoài mặt trận cần cơm ăn, thuốc chữa bệnh thì hậu phương phải làm hết sức mình.
Sau Hiệp định Genève, chiến tranh chưa dừng lại. Địch ráo riết gom dân, lập ấp chiến lược và truy lùng những gia đình có liên hệ với cách mạng. Lo người con trai lớn Nguyễn Văn Thuận sẽ bị bắt lính, năm 1964, chính mẹ là người đưa anh vào chiến khu tham gia Huyện đội Định Quán khi mới mười sáu tuổi. Tiễn con đi, mẹ chỉ dặn một câu ngắn gọn: "Làm người thì phải giữ trọn lời hứa với đất nước."
Ở nhà, mẹ một mình nuôi năm người con nhỏ, chăm sóc người chồng đau yếu và tiếp tục làm cơ sở cách mạng. Năm 1967, ông Nguyễn Văn Cầm qua đời sau nhiều năm chống chọi với bệnh tật, để lại mọi gánh nặng trên đôi vai người vợ.
Ông Bình kể rằng cuối năm 1968, mẹ bị địch bắt giam tại Tiểu khu Long Khánh vì nghi tiếp tế cho cách mạng. Chúng dùng đủ mọi cách tra khảo, ép mẹ khai nơi hoạt động của các con và cán bộ. Nhưng sau nhiều tháng không thu được kết quả, chúng buộc phải thả mẹ. Ngày trở về nhà, chưa kịp nghỉ ngơi, mẹ đã nhận tin người con trai cả Nguyễn Văn Thuận hy sinh tại Suối Nho vào ngày 22 tháng 3 năm 1969.
Ông Bình vẫn nhớ rõ đêm hôm ấy. Mẹ ngồi lặng bên ngọn đèn dầu, đôi mắt đỏ hoe nhưng không một tiếng khóc thành lời. Mẹ chỉ thì thầm: "Mẹ chịu tù đày cũng được, chỉ mong các con bình yên." Đó là lần đầu tiên ông thấy một người mẹ đau đến mức nước mắt không còn đủ để diễn tả nỗi mất mát.
Thế nhưng chiến tranh vẫn chưa dừng lại. Năm 1970, hai người con tiếp theo là Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Văn Tâm tiếp tục xin theo cách mạng. Mẹ biết hiểm nguy đang chờ phía trước, nhưng vẫn gật đầu tiễn các con lên đường. Mẹ nói với ông Bình: "Nếu giữ con ở nhà để nó phải cầm súng cho địch thì thà để nó đi theo cách mạng."
Năm 1972, mẹ lại bị bắt giam thêm một lần nữa. Ngay trong trại giam Tiểu khu Long Khánh, mẹ nhận được hung tin Nguyễn Văn Tâm đã bị địch sát hại tại Núi Thị, An Lộc. Theo lời ông Bình, mẹ ngồi lặng rất lâu rồi xin một nén nhang để thắp cho con nhưng không được chấp nhận. Đó là nỗi đau mà mẹ mang theo suốt phần đời còn lại.
Hai năm sau, sáng ngày 26 tháng 12 năm 1974, khi chiến tranh bước vào giai đoạn quyết liệt cuối cùng, người dân An Lộc bàng hoàng chứng kiến thi thể Nguyễn Văn Hảo được đưa về sân điểm An Lộc. Ông Bình kể, mẹ chạy đến, quỳ sụp xuống ôm lấy con trai. Toàn thân anh đầy máu và vết đạn. Mẹ vuốt mái tóc con rồi lặng lẽ ôm anh vào lòng. Không còn tiếng khóc, chỉ còn đôi vai người mẹ run lên giữa sân đất đỏ.
Đất nước thống nhất, căn nhà nhỏ của mẹ trở nên yên tĩnh hơn bao giờ hết. Ba người con đã nằm lại chiến trường, người chồng cũng không còn. Nhưng mỗi khi có đồng đội cũ của các con ghé thăm, mẹ luôn nấu một bữa cơm giản dị và hỏi han như thể những người lính ấy đều là con mình.
Ông Nguyễn Văn Bình kể rằng điều khiến ông kính phục nhất là mẹ chưa bao giờ nhắc đến sự hy sinh của gia đình như một công lao. Mẹ chỉ bảo: "Nhà mình mất mấy người thì cũng như bao nhà khác. Miễn đất nước hòa bình là được."
Năm 1985, mẹ và chồng được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đến năm 1994, mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng để ghi nhận những cống hiến và hy sinh to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tháng 2 năm 2009, mẹ thanh thản qua đời sau gần chín mươi năm sống trọn nghĩa với quê hương, đất nước.
Khép lại câu chuyện, ông Nguyễn Văn Bình xúc động nói: "Tôi từng chứng kiến mẹ Sang ôm thi thể người con út ngay giữa sân An Lộc. Đó là hình ảnh mà suốt đời tôi không thể quên. Nhưng điều lớn hơn cả là sau mỗi lần mất con, mẹ vẫn không mất niềm tin vào ngày đất nước hòa bình. Ba người con đã nằm xuống, nhưng chính sự hy sinh của họ cùng nghị lực của mẹ đã góp phần để thế hệ hôm nay được sống trong những ngày yên bình."



