Mẹ VNAH Trần Thị Huấn (1914 - 1994)
Vết hằn của chiến tranh không chỉ nằm lại trên những vỏ đạn rỉ sét ngoài chiến trường, mà thấm sâu vào từng nếp nhăn trên trán, từng tiếng thở dài hằng đêm của những người mẹ hậu phương. Đi qua những khúc quanh ngột ngạt của lịch sử, tôi nhận ra rằng sức mạnh vĩ đại nhất để dân tộc này đứng vững chính là tinh thần bám đất, quyết gạt đi gánh nặng riêng tư để hướng về một ngày non sông sạch bóng quân thù. Khi tiếp cận sử liệu thời hoa lửa tại vùng đất Long Thành, tỉnh Đồng Nai, hành trình gánh vác giông bão của Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Huấn đã gieo vào lòng tôi một khoảng lặng đầy kính cẩn và thấu cảm sâu sắc về tình cốt nhục hai miền Nam - Bắc.
Đối với tôi, cuộc đời mẹ Trần Thị Huấn là một minh chứng kiêu hãnh cho sự kiên cường vượt lên trên mọi thử thách nghiệt ngã của số phận. Mẹ sinh năm 1914 tại xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, mảnh đất miền Trung quanh năm nắng gió nhưng đong đầy nghĩa tình cách mạng. Một đời lam lũ, một sương hai nắng lo toan việc đồng áng nuôi con, mẹ đã trở thành điểm tựa vững chắc để chồng vững tâm dấn thân vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhưng cuộc chiến tàn khốc đã giáng đòn chí mạng đầu tiên vào nếp nhà nhỏ khi người bạn đời của mẹ là liệt sĩ Hoàng Văn Nhu, sinh năm 1914, anh dũng hy sinh ngày 8/6/1952, nhằm ngày 16/5 năm Nhâm Thìn. Nuốt nước mắt vào trong, người mẹ trẻ một mình tần tảo ngược xuôi nuôi dạy các con khôn lớn bằng dòng máu trung kiên của gia đình, để rồi khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, con trai mẹ lại dũng cảm tiếp bước cha lên đường tòng quân. Nỗi đau một lần nữa xé nát cõi lòng mẹ khi người con trai duy nhất là liệt sĩ Phạm Văn Nam, sinh năm 1942, cũng anh dũng nằm lại nơi chiến trường khói lửa vào ngày 6/3/1963.
Đứng từ góc nhìn cảm nhận cá nhân, tôi nghẹn ngào trước những chia ly, mất mát chồng chất đè nặng lên một gia đình cách mạng trọn vẹn lý tưởng. Chồng ngã xuống thời chống Pháp, con trai gửi lại thanh xuân thời chống Mỹ, hai người thân yêu nhất vĩnh viễn nằm lại ở hai thời điểm khác nhau khiến vết thương lòng của mẹ không một ngày ngơi rỉ máu. Trải qua những thăng trầm, mẹ nén đau thương, theo chân con cháu chuyển vào miền Nam định cư và mất ngày 20/8/1994 tại xã Bình Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Người mẹ Thanh Hóa ấy đã nằm lại giữa lòng đất đỏ miền Đông sau khi đã dành trọn cả cuộc đời để tận hiến cho nền độc lập dân tộc. Để ghi nhận và tri ân sự hy sinh vĩ đại đó, ngày 9/1/2014, Chủ tịch nước đã ban hành Quyết định số 3193/QĐCTN truy tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cho mẹ. Hiện nay, ngọn lửa truyền thống vẹn nguyên vẫn được giữ gìn vẹn toàn khi con của mẹ là bà Phạm Thị Mùi đang ngày đêm khói hương thờ cúng mẹ tại gia đình.
Từ khoảng lặng lịch sử đầy xúc động của gia đình mẹ Trần Thị Huấn, bản thân tôi nhận ra bài học lớn nhất mà người trẻ hôm nay cần thấu cảm chính là trách nhiệm gìn giữ và biết ơn bằng những hành động thực tế. Hòa bình mà mỗi chúng ta đang thụ hưởng dưới bầu trời tự do ngày nay không phải là món quà ngẫu nhiên, mà được đổi lấy bằng tuổi xuân, bằng hạnh phúc gia đình và dòng máu cốt nhục trải dài từ Bắc chí Nam của thế hệ đi trước. Vì lẽ đó, lòng biết ơn không thể chỉ dừng lại ở những lời ca tụng sáo rỗng hay những buổi lễ mang tính hình thức. Sự trân trọng chân chính nhất phải được chuyển hóa thành động lực trong mỗi giờ học tập, mỗi ngày lao động nghiêm túc, tích cực dấn thân vào các phong trào đền ơn đáp nghĩa hướng về các gia đình chính sách và có ý thức tự tay bảo tồn, số hóa các tư liệu lịch sử địa phương để câu chuyện về mẹ luôn sống mãi cùng thời gian.
Biết ơn quá khứ chính là nền tảng vững chắc để định hình cho một lý tưởng sống tử tế và có ích giữa dòng đời hối hả. Khi đứng trước khói trầm bảng lảng trên bàn thờ mẹ Trần Thị Huấn, tôi tự dặn lòng phải rũ bỏ lối sống vị kỷ, biến sự xúc động hôm nay thành nguồn năng lượng tích cực để cống hiến sức trẻ cho sự phát triển của cộng đồng, quyết tâm chung tay xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp và văn minh, xứng đáng với sự dâng hiến vĩ đại của các bậc tiền nhân.



