MIỀN NÚI TRỊ-THIÊN NỔI DẬY, MỞ ĐƯỜNG HÀNH LANG CHIẾN LƯỢC VÀ PHỐI HỢP CHIẾN ĐẤU GIÚP BẠN LÀO
Qua cuộc đấu tranh chống địch "tố cộng, diệt cộng", mặc dầu cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề, nhưng những cuộc khởi nghĩa từng phần cũng đã xuất hiện ở nhiều nơi, nhất là miền núi Khu 5, đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ. Riêng Trị - Thiên do địch tập trung đàn áp, nhiều cơ sở đảng tan vỡ, nên phong trào cách mạng phát triển không đều, quần chúng nhân dân một số còn hoang mang. Ở miền núi Trị - Thiên tuy phong trào còn rất nhiều khó khăn, nhưng lực lượng lãnh đạo được tăng cường, quần
Tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 15. Sau khi phân tích sâu sắc tình hình trong nước và thế giới, xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam, Nghị quyết hội nghị chỉ rõ: con đường phát triển của cách mạng ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc, phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân. Hội nghị còn phân tích thêm: khi sử dụng lực lượng tự vệ và vũ trang tuyên truyền cần phải thấu suốt nguyên tắc phục vụ cho đấu tranh chính trị và phục tùng lợi ích của đấu tranh chính trị.
Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã vạch ra phương hướng đúng đắn cho cách mạng miền Nam, nó có ý nghĩa quyết định làm chuyển biến phong trào đấu tranh của nhân dân ta. Trị - Thiên, tiếp thu Nghị quyết 15 như hạn hán gặp mưa rào. Đường lối cách mạng miền Nam mà Nghị quyết vạch ra đáp ứng nguyện vọng bức thiết của đông đảo quần chúng, động viên mạnh mẽ tinh thần cách mạng của nhân dân cả miền núi lẫn đồng bằng, tạo nên sự nhất trí cao độ.
Tháng 5 năm 1959, Tỉnh ủy Quảng Trị quán triệt Nghị quyết 15, phổ biến đến từng chi bộ, đảng viên. Tháng 6 năm 1959, Tỉnh ủy Thừa Thiên triển khai học tập Nghị quyết 15 và phát động giáo dục quần chúng nhân dân hiểu đúng đường lối của Đảng, tiếp tục đứng lên đấu tranh chống Mỹ - Diệm. Dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, những cuộc đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ ở mức độ thấp diễn ra ở nhiều nơi, nhất là miền núi. Cuộc đấu tranh của nhân dân Trị - Thiên không còn ở thế thụ động, chính trị đơn thuần như trước.
Lo sợ trước phong trào cách mạng ngày càng lan rộng ở Trị - Thiên, tháng 4 năm 1960, địch cho ba tiểu đoàn càn vào miền tây Quảng Trị, thực hiện dồn làng, tập trung dân vào các khu: Khe Sanh, Lao Bảo, Hướng Hóa, Cùa, Ba Lòng, hòng bóp nghẹt cuộc sống nhân dân, tách dân khỏi đảng. Tháng 10 năm 1960, hai tiểu đoàn địch càn vào hai xã Thượng Hùng, Thượng Quảng (Thừa Thiên) gom dân vào các khu Nam Đông, Khe Tre, Bình Điền, A Lưới, A So. Càn đến đâu, chúng đều thực hiện đốt nhà, phá hoa màu, giết hại dân thường, bắt hàng trăm người đi dinh điền. Các làng, bản A Trìa, Tam Dần, A Lưới bị địch triệt hạ hoàn toàn.
Căm thù địch dồn nén tột độ trong nhân dân đã đến lúc bùng lên ngọn lửa đấu tranh mạnh mẽ. Được phong trào Đồng khởi toàn miền cổ vũ, Tỉnh ủy các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên liền phát động cuộc nổi dậy của quần chúng cách mạng ở miền núi hai tỉnh.
Mở đầu phong trào đấu tranh, một tổ đặc công và du kích xã Phong Lâm trừng trị tên chánh tổng phản động thuộc đảng "cần lao nhân vị" ở Khe Tranh (Thừa Thiên). Ngày 10 tháng 12 năm 1960, dưới sự lãnh đạo của chi bộ xã Hướng Lâm, do đồng chí Lộc bí thư và đồng chí Bân phó bí thư Ban cán sự miền tây Thừa Thiên chỉ đạo, bộ đội cùng du kích bắt gọn trung đội địch và tên phản động khét tiếng trong vùng. Tiếp đó, chi bộ tổ chức cuộc mít tinh với hơn 2.000 người tham dự. Sau khi tố cáo tội ác của Mỹ - Diệm, đoàn chủ tịch tuyên bố xóa bỏ chính quyền ngụy và tiến hành xử tử một số tên có nhiều nợ máu với cách mạng.
Ngày 15 tháng 12 năm 1960, hơn 2.000 nhân dân xã Phong Lâm mít tinh tuyên bố xử tử tên phó tổng bí thư đảng "cần lao nhân vị" (tên này thường xuyên về Huế trực tiếp báo cáo và nhận chỉ thị của Ngô Đình Cẩn) và quyết định xóa bỏ chính quyền ngụy, thành lập chính quyền cách mạng. Sau cuộc mít tinh, cấp ủy đảng chỉ đạo nhân dân khẩn trương sản xuất, làm chông, bẫy, sẵn sàng chống địch phản kích.
Nhân dân các xã quanh vùng đều nổi dậy đấu tranh lật đổ chính quyền địch, xây dựng bản làng chiến đấu.
Ở Quảng Trị, mở đầu cho phong trào nổi dậy, tháng 7 năm 1960, các lực lượng vũ trang tỉnh tiêu diệt vị trí Sa Mưu. Được lực lượng vũ trang hỗ trợ, nhân dân trong vùng nổi dậy đấu tranh chống địch gom dân, lập ấp chiến lược.
Phong trào tiếp tục lan rộng, đến tháng 12 năm 1960, nhân dân nam Hướng Hóa nổi dậy diệt trừ ác ôn, giải tán chính quyền địch, lập chính quyền cách mạng.
Tháng 10 năm 1960, ba tiểu đoàn địch từ đồng bằng lên phản kích vào Hướng Hóa. Các đội công tác 59A và 59B cùng với dân quân, du kích Hướng Hóa tổ chức đánh địch, buộc chúng phải rút về Đông Hà. Thành quả nổi dậy của nhân dân được giữ vững.
Tháng 11 năm 1960, Mỹ - Diệm dùng hai tiểu đoàn từ Hương Trà mở cuộc phản kích lên Phong Lâm, Hương Lâm (Thừa Thiên). Quyết không để địch chiếm lại miền núi, lực lượng vũ trang tỉnh cùng với dân quân, du kích Phong Lâm, Hương Lâm phục kích đánh địch. Bị chặn đánh, địch phải rút về Huế.
Cuối năm 1960, ở Quảng Trị, địch phải rút khỏi một số đồn bốt như Sa Mùi, Tà Rụt, Trại Cá, Sa Trầm, Li Tôn, làng ông Nhiệm, dọc biên giới và phía tây đường số 9. Tại Thừa Thiên, địch phải co về các điểm A So, A Lưới, Nam Đông, Khe Tre.
Lực lượng vũ trang Quảng Trị, Thừa Thiên không ngừng lớn mạnh. Đến tháng 1 năm 1960, bộ đội địa phương miền núi đã có hơn 366 người, được trang bị đầy đủ vũ khí, các xã đều có từ một đến hai tiểu đội du kích. Ý thức đánh địch được thể hiện ở mọi người dân.
Đến cuối năm 1960, miền núi Quảng Trị, Thừa Thiên căn bản được giải phóng đã trở thành địa bàn đứng chân cho lực lượng cách mạng Trị - Thiên.
Cùng với thắng lợi của phong trào Đồng khởi toàn miền Nam, những cuộc nổi dậy của miền núi Trị - Thiên đã góp phần đẩy Mỹ - Diệm vào giai đoạn khủng hoảng triền miên.
Thắng lợi của phong trào đấu tranh ở miền Nam là niềm cổ vũ lớn lao đối với quân và dân miền Bắc, trực tiếp là các tỉnh tuyến đầu hậu phương, động viên phong trào thi đua xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện của quân, dân các tỉnh Quân khu 4.
Trong thời gian này, một số địa phương trong quân khu đã phát động phong trào kết nghĩa Bắc - Nam. Mỗi tỉnh, mỗi huyện tiến hành kết nghĩa với mỗi tỉnh, huyện ở miền Nam. Cuối năm 1957, những "vườn dừa Bình - Trị - Thiên", "thư viện Bình - Trị - Thiên", "vườn cây An - Ngãi" ra đời.



