Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

MỞ ĐƯỜNG CẤP TỐC CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG TRỊ THIÊN VÀ ĐƯA ĐOÀN THÂN SĨ YÊU NƯỚC MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG THEO ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN RA HẬU PHƯƠNG

Sinh năm: 1928 Quê quán: An Tảo, Kim Động, Hưng Yên Thường trú: Nhà 14-N2, Tổ 57, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.38536626 Từ Bộ Tư lệnh Công binh chuyển vào Bộ Tư lệnh 559 Nguyên Binh trạm trưởng Binh trạm 32, Trưởng phòng Bảo đảm Giao thông Cục Tham mưu Công binh Nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 565

Lai Châu12/02/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968, thành phố Huế vẫn đang kiên cường tiếp tục chống giữ, giành giật của hai bên trở nên ác liệt.

Địch đã nống ra A Sầu, A Lưới đổ bộ quân bằng trực thăng xuống chiếm giữ vùng núi Con Mèo ngã ba đường đi Nam Đông Khe Tre, đi A Lưới, A Sầu. Địch đã phải trả giá bằng 34 trực thăng bị bắn rơi trong một ngày, nhưng vẫn không chịu từ bỏ ý định chiếm giữ dốc Con Mèo.


Việc tuyên chi viện Trường Sơn với chiến trường Trị Thiên bị chia cắt đang giằng co quyết liệt giữa ta và địch, buộc Binh trạm 42 phải bằng mọi cách nối thông đường vận chuyển đưa hàng vào chiến trường.

Sau buổi giao ban căng thẳng, một đoàn đốc chiến của Bộ Tư lệnh được thành lập khẩn trương vào giúp Binh trạm 42, binh trạm sát nách chiến trường để thực hiện nhiệm vụ đó. Phó Tư lệnh Lê Đinh Sum cùng một số sĩ quan các ngành chính trị, tác chiến, pháo binh, hậu cần, vận tải, công binh, trên hai xe Gatz 69, chạy lấn sáng lấn chiều, vượt qua ngã ba La Hạp đi thẳng vào chỉ huy sở Binh trạm 42, tại khu vực Động Con Tiên cách dốc Con Mèo không xa.


Binh trạm trưởng Hoàng Huyềnh đã có mặt đón đoàn tại địa đạo trung tâm, và dẫn khách về nhà nghỉ, ăn sáng. Nhà khách của Binh trạm là những nhà hầm nửa âm nửa dương, đào dựa vào sườn đồi, nguỵ trang rất khéo, mái lợp cỏ tranh, có hầm chữ A liền kề, cửa hầm bố trí thuận tiện. Mỗi nhà có 2 hoặc 3 giường nằm chân thấp, dát giường ken nứa bằng phẳng, có chăn đơn, màn đơn sạch sẽ gọn gàng. Một chiếc bàn tre nhỏ, thường trực chiếc đèn bão dầu ma zút cài một miếng bìa che ánh sáng, đề phòng máy bay địch phát hiện cạnh đó một chiếc ca Trung Quốc pha nước, 4 chiếc chén trong đĩa men sắt. Có ai nghĩ rằng ở đây ngày đêm đang đối mặt với chiến trường?


Trong buổi làm việc đầu tiên với Binh trạm, Phó Tư lệnh Lê Đinh Sum nói rõ nhiệm vụ, phân công từng mảng công việc. Việc phải triển khai hết sức cấp bách là trong 10 ngày phải nối thông đoạn đường tránh dốc Con Mèo đến Sông Bồ gặp đường 12 sẵn có để chi viện hàng trực tiếp vào Huế. Lực lượng nòng cốt thi công đường là công binh Binh trạm 42, một tiểu đoàn của Trung đoàn 7 công binh do đồng chí Lê Văn Xương, Trung đoàn trưởng chỉ huy trực tiếp, Trung đoàn 4 của đồng chí Tạ Viết Quý, 2 máy ủi đã bố trí tại nam A Lưới. Ngoài ra còn huy động thêm 4 tiểu đoàn đi B dừng lại tham gia mở đường.

- "Bộ Tư lệnh đã giao cho đồng chí Đặng Văn Ngữ, Trưởng phòng Bảo đảm giao thông chịu trách nhiệm chung, đồng chí Bùi Đức Tạm, Phó Chủ nhiệm Chính trị giúp đồng chí Ngữ công tác chính trị, và vào họp với Mặt trận Dân tộc Giải phóng tại địa đạo trên đường 12" - đồng chí Phó Tư lệnh kết thúc buổi làm việc.


Công việc triển khai rất khẩn trương, việc đầu tiên là bố trí cán bộ công binh làm nòng cốt giúp đỡ các tiểu đoàn quân đi B biết cách tổ chức thi công. Trên đường, vừa đi vừa giao nhiệm vụ cho từng đơn vị về khối lượng và mệnh lệnh, về thời gian hoàn thành. Hiểu rất rõ nhiệm vụ phục vụ chiến trường, các đơn vị phấn khởi hứa quyết tâm thực hiện nhiệm vụ.


Đúng đến ngày thứ 10, Chính uỷ Vũ Xuân Chiêm trực tiếp gọi thắng điện thoại cho tôi:

- "Sống chết gì, vào ngày hôm nay đồng chí vẫn phải cho xe vận chuyển hàng vào đường 12!"

Những đoạn dốc còn cao trên tiêu chuẩn, chúng tôi đã kịp thời huy động cả nhân lực và máy húc bảo đảm. Mặt trận đã huy động một đại đội dân công người Vân Kiều gùi sắn, bột bống báng bổ sung khẩu phần lương thực hiện đã thiếu thốn, cạn kiệt.

Đoạn đường đã được khai thông. Một đoàn xe Gatz 69 chở chuyến hàng thiết yếu đầu tiên vào đến Sông Bồ giao cho chiến trường.

Công việc tạm ổn, đồng chí Thế, Binh trạm phó tác chiến truyền đạt chỉ thị của Tư lệnh giao bảo đảm an toàn cho một đoàn thân sĩ của Mặt trận ra hậu phương. Đoàn gồm Thượng toạ Thích Đôn Hậu, Phó Chủ tịch liên minh các lực lượng dân chủ và hoà bình miền Nam Việt Nam, cụ Nguyễn Văn Đoá, giáo sư trường Đồng Khánh, bả Tuần Chi và chú tiểu lái xe của Thượng toạ lúc còn ở Huế.


Đồng chí Thế, Binh trạm phó tác chiến, được giao tổ chức lực lượng thực hiện nhiệm vụ này và tôi, Trưởng phòng Bảo đảm giao thông Cục Tham mưu Công binh tham gia. Chúng tôi xem lại toạ độ nơi đón đoàn, nghiên cứu điện của Bộ Tư lệnh và tổ chức thực hiện ngay.


Hoàng hôn đã buông xuống miền Tây Huế. Một đêm mới sang xuân, trời mưa phùn nhẹ hạt, se lạnh. Trong thời điểm cuộc chiến đang trong thế giằng co ác liệt, không gian cứ trầm trầm, ẩn ẩn, họ đã gặp nhau, hai trưởng đoàn trao đổi mật hiệu, tay bắt mặt mừng.


Một tập thể tổ chức quân đội miền Bắc ở chiến trường có sĩ quan, chiến sĩ, quân y đi theo đón một đoàn các nhân sĩ, các phật tử sống trong vùng địch hậu gần suốt cả cuộc đời, khác nhau cả về cuộc sống vật chất đến phong cách tập quán, nhưng tất cả đồng nhất một nguyện vọng độc lập dân tộc, thống nhất: đất nước. Mới lần đầu gặp nhau trong ánh sáng mờ ảo, sao như đã quen nhau từ lâu!


Thượng toạ Thích Đôn Hậu có thân hình tầm thước, dáng đi đạo mạo, vẻ mặt đượm chút tư lự đăm chiêu, hai tay chắp vào nhau có chút gì vừa cung kính vừa thân tình gọi mọi người bằng đồng chí. Đã biết trước trong đoàn có bà "Tuần Chi1 (Vợ Tuần phủ Nguyễn Đình Chi)", Binh trạm bố trí 2 nữ quân nhân phục vụ. Bằng giọng Huế ngọt ngào, bà trìu mến nắm tay, vỗ vai, xoa đầu khen ngợi các cô gái dịu hiền, khoẻ khoắn, rắn rỏi. Bà đăm chiêu nhìn xa xăm, có lẽ bà đang liên tưởng nghĩ đến các cô gái con bà. Cụ Đốc Đoá, một nhà giáo nổi tiếng ở nội đô thành phố Huế, đã lớn tuổi, dáng không được khỏe, anh Thế đề nghị mời cụ lên võng nhưng cụ nhất quyết không chịu. Một tay cầm gậy, một tay cầm chiếc đèn pin đã bọc "mùi xoa" che mờ ánh sáng, đi hàng dọc giữa anh Thế và tôi, vừa đi vừa trao đổi chuyện trò. Cụ Đốc Đoá là nhà trí thức Huế, hoạt động cách mạng đã khá lâu, am hiểu nhiều mặt, từ vùng giải phóng đến miền Bắc, cụ lại vui tính, cởi mở, nói chuyện râm ran dọc đường với anh chị em như đã thành người bạn đường thân thiết.


Đến trạm tiền phương Binh trạm 42, trăng lên quá đỉnh đầu, đã "nửa đêm, canh ba, giờ tý"- cụ Đốc Đoá nói vui như vậy. Sương đêm về sáng nhỏ giọt, rừng khuya trải dài bàng bạc. Giá như không có tiếng OV10 rè rè bền bỉ, tiếng bom toạ độ xa xa, tiếng pháo cầm canh điểm đều đều, quay vòng một bán kính mà tâm của nó đâu đó từ thành phố Huế nổ vu vơ thì cảnh quan đất trời với núi non Trường Sơn trùng điệp nơi đây cũng đã khẳng định một cảnh đẹp u tịch thần tiên hiếm có.


Đây là chặng nghỉ chân, nói là "tiền phương dã chiến" nhưng đoàn cũng được tiếp đón khá chu đáo, có nước nóng rửa chân tay, có bát cháo khuya ăn tạm, mắm muối đậm đà. Bên hầm chữ A tiền phương nhường cho khách, ánh pháo sáng lập loè khi vơi khi đầy, đủ giúp họ sắp xếp một chỗ ngả lưng tạm thời nhưng thật thú vị. Lo cho các vị phật tử cao niên, tạm an tâm, anh Ngữ, anh Thế và đoàn phục vụ, rất quen thuộc động tác tự phục vụ mình, đã nhẹ nhàng treo xong chiếc võng vi ni lông, không quên vắt lên đoạn dây dù dọc võng mảnh ni lỏng màu xám che sương đêm.


Cả đoàn chủ, khách đà im lặng trong không gian tĩnh mịch. Một giấc ngủ ngon lành hiếm có ngay tại chiến trường. Cả cuộc đời đã xế bóng của 3 vị khách cao niên chắc chắn chưa có được một lần mà có lẽ cũng khó có được lần thứ hai.

Trưa ngày hôm sau, đoàn đến Binh trạm bộ 42. Thượng toạ, bà Tuần Chi, cụ Đốc Đoá nắm chặt tay Binh trạm trưởng Hoàng Huyềnh và Chính uỷ Binh trạm xúc động trầm trồ khen ngợi, thán phục việc tổ chức tiếp đón nhiệt tình, đã thắng lợi ở chặng đầu tiên.

Chỉ huy Binh trạm cùng dùng cơm trưa chiêu đãi khách. Các vị không khỏi ngạc nhiên với bữa cơm chiêu đãi này. Giữa rừng núi âm u xung quanh dầy bom đạn, đoàn phật tử từ cố đô Huế lên, lại có một bữa "cơm chay" thật sự. Giữa bàn, hai đĩa đậu phụ được đơm đầy. Anh nuôi bày rất khéo, nhưng không hoa lá, hai bát tương, đĩa rau cải tăng gia đĩa nộm hoa chuối trộn vừng, cụm rau sống, và khá nhiều loại rau bày gọn trên hai chiếc lá dong rừng xếp ngược đầu nhau được cắt ghép thành hình bầu dục đặt ở hai đầu bàn, mặt bàn trải tấm ni lông vuông vắn màu cánh dán.


Bà Tuần Chi, đời thường chắc hẳn là một nữ tướng nội trợ. Bà nhìn chăm chú một lượt khắp bàn ăn khen:

- "Chà! Anh em giỏi quá, các cháu gái nấu ăn giỏi quá, lãnh đạo cũng quá chu đáo, bộ đội đánh giặc giỏi, ngoại giao giỏi, nội trợ cũng tài."

Thượng toạ Thích Đôn Hậu đăm chiêu suy nghĩ, chậm rãi tán thành ý kiến bà Tuần. Bữa cơm chay đơn sơ, có bình phẩm, có ngợi khen thật tình, người dùng bữa thấy thật sự ngon miệng, người phục vụ vui vẻ lấy thêm thức ăn, mang thêm bát canh chua rau rừng, xới thêm bát cơm cho khách, được tiếp thêm sự hào hứng phấn khởi.


Thực tình tôi cũng không khỏi ngạc nhiên, rỉ tai Binh trạm trưởng thì được biết Chính uỷ Bộ Tư lệnh đã có thông báo và chỉ đạo từ trước nên cũng có sự chuẩn bị.

Bỗng cụ Đốc Đoá cởi mở: "Với đôi dép hạ, dày bata, chúng tôi đang dùng, đi đường mòn Hồ Chí Minh có lẽ không phù hợp, muốn xin các đồng chí cho chúng tôi đôi dép cao su được không? Đôi dép Bác Hồ, tôi đã được biết đến từ hồi chống Pháp, đôi dép Bình Trị Thiên, lợi hại lắm, dùng vừa bền, vừa rất thuận tiện."

Binh trạm trưởng thông cảm, cười: "Xin hoàn toàn nhất trí và xin có ngay, thưa Cụ!"

Hậu cần đã mang dép cao su lên, chẳng biết có phải đã chuẩn bị trước, một lần nữa tôi cũng phải ngạc nhiên.

- "À, còn phải dự bị vài quai dép thay thế" - Anh Thế rút sau túi quần dụng cụ là chiếc kẹp sắt dùng để xâu quai và làm động tác thay quai.

Không hiểu có phải mới được thấy lần đầu không, Thượng toạ và bà Tuần quan sát rất chăm chú. Trong tâm tư của họ đã hết nỗi lo âu là lấy gì để bảo vệ đôi chân sẽ còn phải bước chắc là rất nhiều ngày trên đường mòn Hồ Chí Minh vạn dặm này.

Ba chiếc xe con Gatz - 69 đã sẵn sàng. Xe được ngụy trang cẩn thận, đầu quay về hướng Tây. Cụ Đốc Đoá và bà Tuần Chi đi xe đầu, Thượng toạ Thích Đôn Hậu và chú tiểu ngồi xe thứ hai, tôi cùng hai cán bộ của Binh trạm ngồi xe sau cùng, có nhiệm vụ hộ tống khách. Tất nhiên, mỗi xe của các vị khách đều có quân y Binh trạm đi theo đề phòng bất trắc rủi ro có thể xảy ra trên dường đi. Xe đi theo đường B45 về ngã ba La Hạp, một ngã ba trọng điểm bom đạn nổi tiếng ác liệt, đến Binh trạm 33 nghỉ một ngày theo kế hoạch, hôm sau mới vể Đoàn bộ ở K1.


Đến Binh trạm bộ 33 mới phát hiện được chiếc ví đầm bằng da màu đen bà Tuần Chi luôn cầm tay bị rơi lúc nào không hay biết. Bà Tuần băn khoăn trao đổi với Thượng toạ rồi cho Binh trạm biết là trong ví còn có giấy tờ của Mặt trận, từ lúc ra đi bà xem là vật tuỳ thân của cả cuộc đời còn lại, cùng một số vật kỉ niệm quý mà bà mang theo ra Bắc.


Trong tình huống đặc biệt này thật khó tìm ra giải pháp xử lí. Suốt gần trăm ki lô mét, xe không có sự cố, không phải dừng lại dọc đường. Đường đất đá gồ ghề, xe di có xóc, nhưng vẫn chạy đều đều, xe không bị máy bay săn đuổi. Người nữ quân y đi theo ngồi cạnh bà cho biết bà rất tỉnh táo, không say xe, vẫn trò chuyện trao đổi...


Đã có phương án của Binh trạm 33 phải thông báo cho các đơn vị bảo đảm giao thông sáng sớm mai tổ chức đi tìm lại, hy vong ban ngày dễ phát hiện hơn.

Tôi có chút suy tư, bình tĩnh nghĩ lại chặng đường đã đi qua và quả quyết: Khi đi qua dốc Ông Đời, ánh pháo sáng đã làm cho tôi nhìn thấy hai đốm tròn xoe, long lanh sáng chóingờ ngợ đôi mắt của thú rừng, lúc đó tôi đã nghĩ chắc là con thú nhỏ bị chẹt xe chết về phía phải đường. Đang làm nhiệm vụ hộ tống đoàn khách không có thời gian dừng xe lại. Nghe bà Tuần kể sự việc, tôi liên tưởng đến đó là hai khuy cài tròn bằng đồng của chiếc ví.


Binh trạm tán thành ngay ý kiến của tôi, điện thoại hướng dẫn cho trực barie ở đốc Ông Đời xuống dốc về phía bắc khoảng 50 mét tìm chiếc ví và mang ví ngay về Binh trạm bộ. Cán bộ Binh tram không quên dặn không được mở ví ra, phải giữ nguyên dạng.


Hơn 30 phút sau, cũng vừa mới kịp lau rửa chân tay, nhấm nháp miếng lương khô cùng chén trà hồng đào ấm áp thì một chiến sĩ công binh trực trạm barie dốc Ông Đời đã mang ví giao trả. Chiếc ví màu đen dính đất đổ đã bị biến dạng, vẹt đi một phía. Nét mặt bà Tuần lộ rõ sự vui mừng nhưng sợ ngộ nhận, chưa dám cầm lại.


Chính uỷ Binh trạm hiểu được tâm lí đó, khẳng định với bà Tuần mấy hôm nay chỉ có đoàn này ở phía Nam đi ra, còn bộ đội Trường Sơn, kể cả các cháu gái cũng không ai có ví này.

Tay run run, bà Tuần mở ví. Chiếc đèn pin hiệu "con cọp" bị bật vỡ kính, bà cười vui và cho biết giấy tờ, vàng bạc mang theo không hề suy suyển.

Bà đã kịp thăm hỏi nói lời cảm ơn với người chiến sĩ đã tìm trả lại bà chiếc ví trước khi anh trở lại vị trí chiến đấu của mình trước lúc trời sáng hẳn. Bà trầm trồ:

- "Hôm qua người nữ y tá cũng đã tốt nghiệp lớp 10, nay anh bộ đội trẻ này vào chiến trường đã 2 năm, cũng đã học xong lớp 10, họ có bằng tú tài cả rồi đó."

Chiều tối hôm sau, đoàn rời Binh trạm 33 để về chỉ huy sở Bộ Tư lệnh. Đội hình vẫn giữ nguyên, thêm một cán bộ Tiểu đoàn 35 công binh dẫn theo con đường mới mở vượt ngầm Tha Mé, địch chưa phát hiện, bảo đảm an toàn hơn. Nhưng đến phía nam ngầm Tha Mé thì mới hay nước ngầm còn sâu, xe con không qua được, phải quay lại theo đường xuống hạ lưu sông Sê Băng Hiêng qua cầu nổi Bản Khốc. Nhưng phà lại đang còn sự cố.


Tôi nhảy lên cầu, quan sát cụ thể, nêu giải pháp tháo rời phà hàn khẩu, cho từng thuyền một vào tạm neo giữ, sau đó mới lắp dẩm và ván mặt cầu. Sau 15 phút, chiếc cầu nổi đã lắp xong nối thông hai bờ Nam Bắc. Đây là chiếc cầu nổi tự tạo bằng gỗ đầu tiên trên dòng sông Sê Băng Hiêng.


Ở nơi tạm lánh, anh Kiểm, chính trị viên phó Đại đội kể với đoàn khách tóm tắt bộ cầu nổi Bản Khốc do các sĩ quan tổ vượt sông Phòng Công trình cùng đại đội vượt sông của anh tổ chức chế tạo. Các sĩ quan Phòng Công trình còn rất trẻ, đã tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội, ở lại Trường Sơn suốt cả mùa mưa Lào tầm tã. Công việc thi công bộ cầu nối này cũng không đơn giản, phải qua nhiều công đoạn: chọn, đẵn, xẻ gỗ, đốt uốn cong, lắp chàm xảm... chất liệu chàm xảm phải mua từ hậu phương mang vào. Thuyền gỗ đủ để lắp ghép cầu có chiều dài hàng trăm mét trên sông này.


Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên tiếp đoàn tại chỉ huy sở ở K1, ngay sau buổi giao ban thường ngày điều hành công việc của mấy chục đơn vị đầu mối cấp dưới và khi đã giải quyết các quan hệ nóng bỏng với các chiến trường.

Tư lệnh nói những lời chân tình hỏi thăm qua 3 chặng đường và vui mừng cho biết trong buổi giao ban sáng nay đã nghe việc đảm bảo cho đoàn khách qua 2 binh trạm và câu chuyện chiếc ví. Nhìn gương sắc vui vẻ, phấn chấn của các vị khách, Tư lệnh cũng đã thầm hiểu, đánh giá được trình độ "ngoại giao" mà thêm tin tưởng khả năng cán bộ cấp dưới của mình.


Trưởng đoàn, Thượng toạ Thích Đôn Hậu nhỏ nhẹ, tế nhị hỏi:

- "Xin đồng chí Tư lệnh cho chúng tôi rõ thêm bao giờ được đến đường mòn Hồ Chí Minh, và từ đó ra Bắc bao xa?".

Tư lệnh cười, cởi mở chậm rãi nói: "đường mòn Hồ Chí Minh đến nay đã thành nhiều trục ngang dọc nối từ hậu phương vào đến chiến trường Khu 5, Nam Bộ, chính là con đường các vị vừa đi 3 đêm qua, và còn đi tiếp dăm đêm nữa thì mới đến hậu phương".

Các vị khách đã hiểu, cùng cười vui sung sướng vì vẫn nghĩ rằng đường mòn Hồ Chí Minh chỉ là một con đường mòn đi bộ.

Đêm nay, cũng trong gian hầm nhỏ nửa âm nửa dương, khác một chút là xung quanh có phên nứa đan che tránh đất đổ, mái nứa băm, lợp kéo sát xuống một rãnh nhỏ được khơi xung quanh để thoát nước mưa, cụ Đốc Đoá ngồi trầm ngâm ghi chép gì đó bên ngọn đèn điện rất sáng, ánh sáng chum lại qua một miếng vải xanh vừa vặn trên trang giấy. Thượng toạ Thích Đôn Hậu đứng ngoài sân, một mảnh đất nhỏ tương đối bằng phẳng trước nhà, tay chắp sau lưng ngắm nhìn những vì sao len lỏi trong lá cây. Hình ảnh một nhà sư với bộ thiền phục rộng rãi thoải mái đang nghĩ về thế sự, cầu mong Trời Phật phù hộ cho những điều tâm đắc đoạn tuyệt được nỗi khô của chiến tranh, đem lại cho phía chính nghĩa, cho dân tộc Việt Nam sớm được hoà bình, độc lập, tự do, thống nhất.


Đêm tối mênh mông, xa xa phía đường số 9, pháo sáng địch vẫn toả chiếu, đẫn đường cho các đoàn xe hối hả vận chuyển hảng hoá đến các chiến trường.

Trên đường mòn Hồ Chí Minh, chiến sĩ lái xe Trường Sơn đang xung trận!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn