Khác

Mỗi người dân Tân Kỳ che chở hơn một người Vĩnh Linh....

Tân Kỳ - huyện miền núi Nghệ An gần 50 năm sau chiến tranh, hai tiếng “Vĩnh Linh” vẫn hết sức thân thuộc. Hình ảnh và dấu ấn của Vĩnh Linh có mặt khắp nơi ở Tân Kỳ: từ cái cột nhà, giếng nước, cái nhà trâu cho đến cây tiêu, cây ớt… Nơi đây, trong những ngày bom đạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã dang rộng vòng tay đón nhận hơn 2 vạn đồng bào từ tuyến lửa Vĩnh Linh (Quảng Trị) ra sơ tán.

Quảng Trị28/11/2025Đoàn xã Bến Quan (Đoàn xã Bến Quan)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vào những năm 1965-1966, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền bắc, tăng cường khủng bố, tàn phá miền nam. Thời kỳ đó, khu vực Vĩnh Linh và Quảng Bình là nơi bị địch đánh phá ác liệt nhất, trở thành “tọa độ lửa”. Người dân tuyến lửa đã phải hứng chịu hàng nghìn tấn bom, đạn. Xóm làng bị cày nát bởi sự khốc liệt của chiến tranh. Cuộc sống của nhân dân chuyển hẳn xuống hầm hào, địa đạo.

Nhận định chiến tranh còn kéo dài, Trung ương Đảng đã đề ra Kế hoạch K8 (tức triển khai từ tháng 8/1966) và K10 (triển khai tháng 10/1967) nhằm di dân ra khỏi vùng chiến sự ác liệt, giảm mật độ dân số ở tuyến lửa, đồng thời “gìn giữ lực lượng và nòi giống”, bảo đảm cho lực lượng ở lại chiến đấu yên lòng đánh giặc. Hàng vạn đồng bào Vĩnh Linh đã được chuyển ra các tỉnh phía bắc, và hơn cả tầm của một cuộc sơ tán, hành trình của những người dân từ tuyến lửa ra vùng hòa bình đã trở thành một cuộc thiên di chưa từng có trong lịch sử. Và cho đến hôm nay, cuộc thiên di ấy vẫn in hằn trong ký ức những người con nặng tình nghĩa “quê chung”…

Cùng với nhiều địa phương miền bắc, Tân Kỳ (Nghệ An) là mảnh đất đã cưu mang, che chở đồng bào từ Quảng Trị sơ tán ra theo kế hoạch K10 khi vùng giới tuyến bị bom Mỹ đánh phá dữ đội những năm 1967-1972… Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nghĩa tình ấy luôn được các thế hệ cán bộ và nhân dân hai huyện không ngừng vun đắp và đã trở thành mối quan hệ đặc biệt với tên gọi “Quê chung”.

Năm nay đã ở tuổi thất thập cổ lai hy, ông Ngô Kế Toản là một trong những nhân chứng hiếm hoi còn sót lại trực tiếp chứng kiến “cuộc thiên di” đặc biệt hàng chục năm về trước của đồng bào Quảng Trị.

Vào thời điểm đó, ông Toản được cử giữ chức Phó Ban K10 của huyện Tân Kỳ. Còn vợ ông, bà Nguyễn Thị Lộc là Chủ tịch Ủy ban hành chính xã Nghĩa Đồng. Dù không còn hoạt bát, nhưng ông Toản vẫn nhớ như in không khí khẩn trương ngày Tân Kỳ nhận nhiệm vụ.

“K8 được thực hiện trước nhằm đưa gần 3 vạn thiếu nhi Vĩnh Linh từ 7-15 tuổi ra các tỉnh miền bắc để học tập. Sau đó, là Kế hoạch K10 nhằm sơ tán người già, người tàn tật, phụ nữ và trẻ em dưới 5 tuổi ra các tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Ở Nghệ An, người dân chủ yếu được đưa đến Tân Kỳ - là huyện mới thành lập năm 1963”, bà Ngô Thị Lộc, con gái cả của ông Toản kể lại.

Sách Lịch sử hệ thống hành chính Nhà nước cấp tỉnh ở Quảng Bình (1945-2000) ghi lại: Kế hoạch K10 được thực hiện bắt đầu từ tháng 10/1967 và được đánh giá là “đợt vận chuyển phức tạp và vất vả hơn nhiều” so với K8. Vào thời điểm này, việc đưa hơn 2 vạn đồng bào, chủ yếu là phụ nữ, trẻ nhỏ và người khuyết tật đi một chặng đường dài hàng trăm kilomet ra bắc dưới mưa bom bão đạn là một thử thách khổng lồ.

Bà Nguyễn Thị Kính, 82 tuổi hiện ngụ tại thôn Nam Hồ, xã Vĩnh Nam (Vĩnh Linh) nhớ lại: Chiến dịch K10 được chia làm 2 đợt; trong đó K10A áp dụng chính sách “mẹ ba con”, tức là một mẹ phải nuôi 3 con dưới 6 tuổi sẽ đi trước. Gần một năm sau, K10B được áp dụng, cho phép mẹ một con và người gia tiếp tục di tản.

Bà Võ Thị Liêu, gốc Vĩnh Nam là người Vĩnh Linh hiếm hoi hiện đang còn sống tại huyện Tân Kỳ. Tháng 10/1968, bà Liễu ôm con, rời quê hương ra bắc theo kế hoạch “số hai” mà bà gọi là “tách ra để tránh thương vong”. Ngày chia tay chồng bên dòng Bến Hải, bà đang mang thai tháng thứ 5.

Chỉ 2 tháng sau khi đến định cư ở đất Tân Kỳ, bà con đã ổn định cuộc sống và bắt tay vào sản xuất, tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Người dân 2 huyện học tập trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất, chở che, cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ tận tình cho nhau. Qua những năm tháng chung sống, gắn bó đồng bào đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, cùng lao động sản xuất, khai hoang phục hóa…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Mỗi người dân Tân Kỳ che chở hơn một người Vĩnh Linh.... | Câu chuyện thời hoa lửa