MỖI NHÂN CHỨNG LÀ MỘT TRANG SỬ SỐNG

Nguyễn Văn Bảy - Người phi công nông dân Nam Bộ
Tôi từng nghĩ môn Lịch sử toàn là những con số và sự kiện khô khốc, cho đến khi tôi tìm đọc về Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Bảy – Hay còn được nhân dân chúng tôi gọi bằng cái tên thân thương: Bác Bảy A.

Bác sinh ngày 02/02/1936 tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Năm 1953, khi mới 17 tuổi – Bằng đúng tuổi tôi bây giờ – Vì nhất quyết không chịu cưới vợ theo lời ép buộc của gia đình, bác đã trốn nhà đi theo cách mạng.

Trải qua những ngày kháng chiến chống Pháp rồi tập kết ra Bắc, ngã rẽ lớn nhất đời bác đến khi được chọn đi học lái máy bay tại Trung Quốc. Thế nhưng, có một chướng ngại vật rất lớn: bác là thanh niên Nam Bộ chưa học hết lớp 3! Để chinh phục những cỗ máy không chiến phức tạp, bác đã tạo nên giai thoại huyền thoại: "Học 7 ngày lên 7 lớp" - nuốt chửng kiến thức từ lớp 4 lên lớp 10 tại Trường bổ túc văn hóa Lạng Sơn. Tinh thần cày ngày cày đêm ấy làm đám học sinh đang đầu bù tóc rối vì thi cử như chúng tôi phải tự thấy hâm mộ.

Và bản lĩnh phi thường ấy đã được minh chứng ngay từ lần đầu xuất kích, tạo nên giai thoại đưa chiếc MiG-17 mang hơn 80 lỗ thủng trở về từ cõi chết mà khi đọc, tôi thực sự "nổi da gà". Đó là trong một trận không chiến ác liệt bảo vệ vùng trời miền Bắc, chiếc tiêm kích do bác Bảy điều khiển bất ngờ bị trúng hỏa lực. Một quả tên lửa địch phát nổ ngay sát cánh trái, sức nóng phả thẳng vào trong khiến nắp buồng lái bị đâm thủng một lỗ lớn. Chiếc máy bay lập tức chòng chành dữ dội và hạ độ cao đột ngột. Ở tình huống sinh tử nghìn cân treo sợi tóc, theo quy tắc, phi công hoàn toàn có quyền bung dù thoát hiểm. Thế nhưng, xót chiếc máy bay vốn là tài sản vô giá của đất nước lúc bấy giờ, bác Bảy nhất quyết không lỡ bỏ. Bằng bản lĩnh gan góc, bác dùng một tay ghì chặt cần lái đang rung bần bật để giữ thăng bằng, tay còn lại rướn người lên bịt kín lỗ thủng trên kính nhằm ngăn luồng gió rít cắt da cắt thịt lùa vào. Cuộc vật lộn trên không trung cứ thế kéo dài nghẹt thở cho đến khi bác lèo lái thành công chiếc máy bay xơ xác hạ cánh an toàn xuống đường băng, trước sự sững sờ của toàn bộ đồng đội và các chuyên gia Liên Xô. Đội thợ máy ùa ra kiểm tra và không khỏi bàng hoàng: thân máy bay chi chít tổn thương với tổng cộng 82 lỗ thủng do mảnh văng và đạn bắn. Câu chuyện ấy không chỉ minh chứng cho kỹ năng bay điêu luyện, mà còn khắc họa chân thực tinh thần quả cảm, sẵn sàng lấy thân mình che chở cho khí tài của người phi công mang cốt cách nông dân Nam Bộ.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.

Trong kháng chiến chống Mỹ, bác Bảy trở thành "nỗi ám ảnh" của Không lực Hoa Kỳ trên bầu trời miền Bắc. Chiếc MiG-17 bác lái vốn là máy bay cận âm cũ kỹ, không có radar hay tên lửa đối không. Nhưng bằng bản lĩnh và tư duy quân sự nhạy bén, bác đã bê nguyên lối đánh du kích sông nước lên bầu trời: "Nhìn bằng mắt, ngắm bằng tay, chờ địch vào đúng tầm bắn mới bóp cò". Bác đã xuất kích 94 lần, nổ súng 13 lần và hạ gục 7 máy bay hiện đại của Mỹ (F-4, F-105, F-8), đạt danh hiệu ACE – Một kỷ lục thế giới hiếm có dành cho dòng MiG-17, cùng 7 Huy hiệu Bác Hồ cao quý.

Trận đánh làm tôi ấn tượng nhất là ngày 24/4/1967. Bác Bảy cùng biên đội xuất kích từ sân bay dã chiến Kiến An (Hải Phòng), càn quét vùng trời kéo dài đến Hà Bắc (nay là Bắc Giang và Bắc Ninh). Đối đầu với tốp tiêm kích F-4 "Con Ma" hiện đại, bác khéo léo lượn vòng lợi dụng địa hình, bất ngờ áp sát cự ly cực gần rồi xả pháo quật ngã chiếc F-4C của Thiếu tá John Robertson trước sự bàng hoàng của đối phương.
Điều làm tôi xúc động nhất không chỉ là chiến công lừng lẫy, mà là cách bác trở về đời thường. Rời buồng lái và cởi bỏ bộ quân phục Đại tá, bác trở về quê nhà Đồng Tháp, khoác lên mình chiếc áo bà ba đơn sơ, vui vầy bên ruộng đồng, ao cá đúng chất thuần hậu của người con miền Tây. Hình ảnh ấy dạy cho lứa học sinh chúng tôi bài học sâu sắc về sự khiêm nhường, giản dị và tình yêu quê hương đất nước.
Câu chuyện về huyền thoại Nguyễn Văn Bảy không chỉ là biểu tượng của tinh thần bất khuất, trí tuệ Việt Nam trên không trung, mà còn là bài học cảm động về sự giản dị, khiêm nhường của một người anh hùng thời đại. Dấu ấn lịch sử mà ông để lại sẽ là dấu ấn lịch sử mà ông để lại sẽ là ngọn lửa truyền cảm hứng mạnh mẽ, thắp sáng lý tưởng cho thế hệ trẻ chúng em hôm nay. Nhìn vào tấm gương của bác, em nhận ra rằng một người anh hùng thực sự không cần lúc nào cũng phải sống trong hào quang hay xa cách. Sự vĩ đại đôi khi hiện diện ngay trong nét chân chất, mộc mạc và tình yêu quê hương dung dị nhất. Câu chuyện lịch sử của ông cũng sẽ là bài học nhắc nhở bản thân em: hãy dũng cảm vươn lên, kiên cường đối mặt với mọi thử thách ngoài kia, nhưng khi trở về, hãy luôn giữ cho mình một trái tim khiêm nhường, tử tế và không bao giờ quên đi gốc gác của chính mình.



