MỘT CÁI NHÌN VỀ CUNG CÁCH LÀM VIỆC CỦA CÁC QUAN TRIỀU TỰ ĐỨC VÀ THÁI ĐỘ ĐỐI PHÓ HỌA NGOẠI XÂM TREO TRÊN ĐẦU CỦA VUA TỰ ĐỨC
MỘT CÁI NHÌN VỀ CUNG CÁCH LÀM VIỆC CỦA CÁC QUAN TRIỀU TỰ ĐỨC VÀ THÁI ĐỘ ĐỐI PHÓ HỌA NGOẠI XÂM TREO TRÊN ĐẦU CỦA VUA TỰ ĐỨC
Nguyễn Xuân Ôn(năm sinh 1825-năm mất 1889) là người quê gốc Nghệ An, xuất thân từ nhà nghèo mồ côi mẹ từ sớm. Ông học giỏi và thi đậu Tiến sĩ năm 1871 cùng khoa với danh nhân Nguyễn Khuyến nổi tiếng. Nguyễn Xuân Ôn là vị quan có tâm huyết và hoài bão lớn lao và từng nhiều lần tâu bày với triều đình Tự Đức về việc dẹp bỏ tệ nạn quan tham ô lại, nghĩ mưu hiến kế vắt óc giúp vua Tự Đức chống giặc Pháp.
Tiếc thay ông sinh vào thời Nguyễn triều suy đồi và liên tục bị trù dập biếm chức đẩy đi nhậm chức nơi xa xôi trong cảnh quan lại kéo bè kết đảng cầu an chỉ biết nịnh bợ thuận theo ý vua, nhà vua ngứa mắt kẻ nghịch ý mình.
Năm 1883, Nguyễn Xuân Ôn mất hết niềm tin vào triều đình Tự Đức vua quan hủ bại xa lánh người tài đức và nhân vụ bị cách chức liền nhanh chóng hồi hương tự mộ quân chống giặc Pháp. Giai đoạn năm 1882-1883, ông dâng lên 2 bài tấu sớ đầy tâm huyết và trút hết trí tuệ ruột gan đúc vào từng câu chữ với hy vọng Tự Đức chú ý và chịu làm theo lời của ông. Đáng tiếc, giấc mơ của ông chỉ mãi là mơ ước nhưng 2 bài tâu của ông đã để lại cung cấp cho chúng ta một số thông tin về cung cách làm việc của vua quan Tự Đức, tài năng của nhiều quan lớn nhỏ triều đình Nguyễn và thái độ của vua Tự Đức khi đối đầu với khó khăn thách thức trong nước cũng như khi đối phó với họa ngoại xâm đang lơ lửng ụp xuống đầu.
-BÀI TÂU XIN KINH LÝ MIỀN THƯỢNG DU năm 1882:
Gần đây đặt sơn phòng ở hai tỉnh Nghệ-Tĩnh đã giao cho quan tỉnh sở tại hội nhau khám xét tâu lên. Tôi thiết nghĩ sự thế thượng du ở Nghệ-Tĩnh nguyên do cố bố chánh ở tỉnh ấy là Ngụy Khắc Đản với tổng đốc Hoàng Kế Viêm đã trù nghị tâu xin trước. Các ông ấy đều là người tài giỏi. Ngụy Khắc Đản lại là người thổ trước(người ở địa phương ấy) và con nhà thế gia, biết việc cũ nhiều. Lần ấy, ông ta thân hành đi khám xét. Trong tập tâu, về đường sá xa gần, tình tục thượng du đều hơi đầy đủ. Bây giờ nếu có khám xét lại, chưa chắc đã rõ ràng hơn ông ấy được. Thế mà có người cho vì nhiều việc mà hoãn đi, hay vì không đồng ý mà làm trở ngại, không khỏi chậm trễ, năm tháng trôi qua. Các nhà hậu nho thường chê triều đình nhà Tống bàn bạc nhiều mà thành công ít, chính là thế đấy.
...
Đến như việc lập đồn điền và các việc nên làm thì trong tập tâu của Ngụy Khắc Đản trước đã có mối manh, nên châm chước với những điều lệ về việc mộ người khẩn hoang đã bàn mấy lần trước mà làm. Còn những việc gì lợi nên làm, tệ nên bỏ thì lâm thời sẽ tùy theo việc mà trù nghị tâu lên để thi hành, nay chưa thể nói cho hết được. Tôi lại nghe Cao Bính Tâm ở tỉnh tôi có điều trần xin thi hành các quan bộ Hộ cũng đã tâu lên, được hoàng thượng phê rằng: « Việc ấy phải lắm, trước Ngụy Khắc Đản cũng đã có ý ấy, nhưng việc làm chưa xong thì đã c.h.ế.t. Bây giờ Nguyễn Chánh cũng bận nhiều việc, chưa lo đến việc ấy. Nay nên làm ngay. Tuy được người thật lòng làm việc có ích không có hại là khó, nhưng không nên sự khó mà bỏ.
...
Nay sự thể thượng du như thế, lâu nay hoàng thượng phê xuống xuống cũng định làm cho được. Thế mà từ khi Ngụy Khắc Đản kiến nghị đến bây giờ, ĐÃ GẦN MƯỜI NĂM mà triều đình cứ nói rằng người cần, việc nhiều mà bỏ qua, thật là đáng lo lắm. Đời xưa làm chính trị, người ta đều dùng người ở thời bấy giờ, chứ không mượn nhân tài đời khác. Chưa từng thấy đời nào nói vì không có người mà bỏ việc!
-BÀI TÂU XIN ĐÌNH HOÃN ÁN KIỆN VÀ TRÙ TÍNH THỜI SỰ năm 1883
Tâu xin đem các nguyên do nên đình hoãn tra biện các án kiện và trù nghị các việc, mật tâu lên, chờ bề trên xét định.
Tháng 10 năm ngoái, tôi tuân theo lời chiếu chỉ cùng viên khoa đạo là VÕ HỮU LIỄN đi đến tỉnh Quảng-bình để tra biện án kiện, và dò xét tình hình mạn ngược. Tháng chạp năm ngoái tôi đã đi lên thượng du xét hỏi và tâu về xong xuôi rồi. Còn cái án giả mạo chiếu chỉ thì những tên can tội nặng như Nguyễn Sơn Tuyên, Hoàng Văn Vận, trong lúc ấy đều đã cung khai và thú nhận rồi. Viên nguyên các thuộc làm tri phủ Xuân-trường là Trần Xuân Tiêu thì xin chờ tỉnh Nam-định kết án xong sẽ giải về tra xét, và đã được chỉ ý chuẩn y. Sau đó, lại vâng giao cái án dân Màn vùng Quy-đạt đến kinh kêu kiện, chúng tôi tra cứu sơ qua thì thấy nhiều điều đặt không. Còn cái khoản tỉnh Quảng-bình hoặc viên doanh điền làm việc không hợp pháp, xét ra không quan trọng lắm. Hai án ấy nhân chứng đến hơn trăm người, trong đó có nhiều người là dân Mọi. Hiện nay ở tỉnh Quảng-bình bệnh đậu mùa phát nhiều, người Mọi sợ bệnh đậu, nên đều trốn tránh, không khỏi có tình trạng ngồi không chờ đợi. Gần đây được người ở Bắc về nói sơ lược về tình hình bờ cõi.
Tôi trộm nghĩ rằng, hiện nay tình hình bờ cõi như thế mà ta cứ chăm việc giấy tờ văn án, lêu lỏng an nhàn, e không phải cái nghĩa vua lo thì bè tôi phải nhục vậy. Thế mà cứ để cho tỉnh, phủ huyện bắt đòi tư báo, thì việc nhiều lòng rối, còn lo sao được việc phòng ngự? Hơn nữa, việc bắt bớ nhân chứng lại liên lụy đến nhiều người, rất là phiền dân, đều không phải là biết cân nhắc việc hoãn, việc gấp vậy.
Vậy xin, không những một tỉnh Quảng-bình, mà nhất thiết những án kiện ở các tỉnh khác, trừ những việc giặc c.ư.ớ.p và nhân mạng, phải bắt trị ngay, việc gì quan hệ đến ruộng đất, phủ huyện địa phương chiếu theo tình lý mà phân xử, còn những việc án kiện tầm thường khác đều hoãn lại một năm, chờ việc bờ cõi hơi rỗi hãy đem ra xét xử. Như thế thì việc rảnh, lòng chuyên nhất, việc phòng giữ bờ cõi mới mong bổ ích được ít nhiều vậy.
Tôi trộm nghĩ rằng, sự thế ngày nay đã đến như thế này, cái lợi hại về việc đặt sứ thần và mở thương chính, không cần phải bàn cãi nữa. Thế mà còn cho việc sứ mệnh có thể tin cậy, việc hòa hảo có thể yên ổn, thì không thể nào không hại đến việc lớn được.
Hiện nay các quan tỉnh có trách nhiệm giữ đất, đều là những người chỉ có tài văn thư giấy tờ, chưa thấy ai có tài ung dung chế ngự được giặc, mà cũng không thấy ai đã thu phục được lòng người. Hơn nữa, luôn năm thay đổi, tình thế không quen, khi có việc điều khiển không nhanh, hành động bối rối; quan võ không có tài chế ngự, quân lính ít có người yên tâm tại ngũ, thành trì thì phần nhiều ở nơi ven sông gần biển, thuận tiện cho tàu và súng của giặc. Như vậy là cả ba điều, thiên thời, địa lợi, nhân hòa, là không có một, lấy gì mà giữ nước? Tình hình 6 tỉnh Nam-kỳ lần trước và 4 tỉnh Bắc kỳ lần sau là những việc đã qua, ta có thể nhìn vào đó mà thấy rõ. Trung nghĩa dũng cảm như Hoàng Diệu, rộng rãi vững bền như thành Hà-nội, lão thành siêng giỏi như Võ Trọng Bình, có lòng phòng giữ mà còn không giữ được trọn ngày, thì các tỉnh khác có thể biết rồi. Thế mà viện Cơ mật lại tư báo cho các tỉnh là chỉ biết trong bụng, phòng trong bụng, không được có một mảy may tiếng tăm hành động, chỉ biết phòng bị trước thì sau khỏi tai hoạn mà thôi. Ôi! Nếu không trưng binh, không khiển tướng để giấu tiếng tăm, mà nói phòng bị trước, sau không có tai hoạn, thì thật là không biết trù tính bằng cách gì. Tháng ba năm ngoái đã tư báo như vậy, lần này lại cũng thế. Mưu mô như vậy mà muốn thắng giặc ở ngoài ngàn dặm, thật là khó thay!
Ở Trung quốc đời xưa, Tạ An đánh (Tiền Tần) ở Phì-thủy, Khấu Chuẩn đánh (Liêu) ở Thiền-uyên, tuy nói đánh cờ uống rượu để làm yên lòng người, thực ra hai ông ấy đã sắp đặt đâu vào đấy, và nắm chắc điều thắng trong tay rồi, cho nên những người trí thức hồi bấy giờ đều biết là không đáng lo sợ. Nếu hồi đó hai ông ấy không có phương pháp gì khác để thắng giặc mà cứ một mực trấn tĩnh suông thì chẳng phải là ngồi mà đợi c.h.ế.t như việc nhà Tiền Tấn và nhà Hậu Hán hay sao./.


