MỘT CUỘC PHÁ VÂY.
Đoạn văn kể lại một tình huống nguy hiểm của cán bộ Sư đoàn 3 Sao Vàng năm 1967 khi đi khảo sát hướng tiến công Quy Nhơn. Trong lúc trú tại suối đá, họ bị quân Mỹ bao vây nhiều lớp. Nhờ bình tĩnh, kỷ luật và khéo lợi dụng lúc địch ném lựu đạn, nhóm chỉ huy đã bí mật bò ra khỏi vòng vây trong đêm, sau đó liên lạc với Tiểu đoàn 1 để giải vây cho lực lượng còn lại. Cuối cùng ta thoát hiểm an toàn và tiếp tục chuẩn bị cho nhiệm vụ chiến đấu.
Tháng 11 năm 1967, Bộ tư lệnh Sư đoàn đang triển khai kế hoạch hoạt động Thu Đông 1967 đã được thống nhất giữa Sư đoàn 3- Sao Vàng và Thường vụ tỉnh ủy tỉnh Bình Định thì nhận được điện Quân khu 5 do đồng chí Giáp Văn Cương – Tham mưu trưởng Quân khu ký. Nội dung chỉ mấy chữ: “Sư đoàn triển khai gấp phương án tiến công lớn vào thị xã Quy Nhơn”.
Rõ ràng đây là mệnh lệnh, khỏi phải bàn. Điều cần bàn là tiến công Quy Nhơn theo hướng nào? Hướng Bắc và Tây Bắc là đánh vào chỗ mạnh, chỗ rắn của địch, còn hướng Nam và Đông Nam, địch bố phòng yếu nhưng hướng này chưa ai nắm được tình hình thuận lợi, khó khăn gì.
Sau cuộc hội ý nhanh, Bộ tư lệnh Sư đoàn quyết định tổ chức đoàn đi khảo sát vùng Đông Nam Phù Mỹ. Đoàn gồm có tôi - chính uỷ; Huỳnh Hữu Anh (tức Quang) - phó Sư đoàn trưởng; Trần Trọng Sơn - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2, Nguyễn Văn Chước - Chính uỷ Trung đoàn 2 và bộ phận nhẹ cơ quan Sư bộ Sư 3, và trung đoàn bộ Trung đoàn 2. Đi sau chúng tôi là Tiểu đoàn bộ binh 1, Trung đoàn 2.
Lộ trình: ngày thứ nhất (11 tháng 11-1967) từ núi Cát Sơn ngược ra Mỹ Trinh, tới Mỹ Lộc, nghỉ đợi 12 giờ đêm vượt đường số I đoạn bắc đèo Nhông, tạm dừng tại hang đá Mỹ Phong. Đêm thứ 2 (đêm ngày 12-11-1967) trời vừa tối, chúng tôi rời Mỹ Phong xuống Mỹ Thọ, vào Tân Phụng thì trời sáng. Bộ phận chỉ huy Sư đoàn, Trung đoàn phải tạt vào khu vực suối đá có nhiều hang hốc để tạm trú. Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2 từ Mỹ Phong xuống thẳng xã Mỹ Thành, đào hầm chuẩn bị chiến đấu nếu địch càn quét.
Trời sáng dần, không gian tĩnh lặng, nước suối trong vắt róc rách chảy qua các kẽ đá. Ai cũng thèm được tắm gội sau mấy ngày đêm hành quân lấm láp, người dính bụi, mồ hôi bốc mùi chua chua. Nhưng do yêu cầu bí mật nơi đóng quân nên những sinh hoạt đời thường nhỏ nhoi ấy đành phải cho qua. Sự mệt nhọc đã tan nhanh bởi không gian trong lành của con suối. Chúng tôi đang bàn công việc của đêm nay, ngày mai, ngày mốt thì có tiếng máy bay trực thăng từ phía Tây Bắc vọng lại mỗi lúc một gần. Không hề bắn phá mà lập tức đổ xuống một Đại đội lính Mỹ thuộc Lữ đoàn không vận 173 ngay trước cửa suối, vít chặt lối ra của chúng tôi. Phía đỉnh núi (đầu suối ) chúng cũng đổ quân. Đã rõ, chúng hình thành thế vây. Lúc đó là 15 giờ ngày 3 tháng 11. Có lẽ chúng tôi để lộ dấu vết trong hành quân nên giờ đây phải trả giá.
Mỹ đổ quân nhưng không xáp vô, không tiến công. Chúng định giở trò gì đây? Từ trong nhìn ra, tôi và anh Huỳnh Hữu Anh thấy rất rõ địch đang triển khai thành nhiều vòng vây. Lớp gần nhất ở cửa suối đá cứ 5 mét có 1 lính Mỹ. Lớp thứ 2 khoảng 50 đến 100 mét có 1 Tiểu đội Mỹ. Lớp thứ 3 khoảng 200 mét có một tốp lính Mỹ. Ngoài đường cái chúng đặt một chốt chặn có hoả lực đại liên, súng cối. Trời bắt đầu tối, cũng là lúc chúng bắn pháo sáng và cứ 5 phút lại ném lựu đạn xuống lòng suối. Rõ ràng, địch đang khép chặt vòng vây để ngày mai “cất vó” chúng tôi.
Một cuộc hội ý được triệu tập, gồm có tôi, Huỳnh Hữu Anh, Trần Trọng Sơn, Nguyễn Văn Chước và các cán bộ tác chiến, trinh sát, thông tin... bàn cách thoát khỏi vòng vây địch trong đêm. Đánh địch mà ra, không ai đồng ý, cho đây là hành động phiêu lưu, thương vong không nhỏ, về quân số ta ít lại toàn “lính văn phòng”, súng “cùi chỏ” (súng ngắn) là chủ yếu. Chỉ còn cách bí mật vượt khỏi vòng vây. Nhưng lại nảy sinh vấn đề là ra tất cả hay ra một số. Ra một số thì yếu tố thành công lớn. Ra tất cả một lúc dễ lộ. Ra một số thì chọn ai? Thấy mọi người đùn đẩy đi, ở mãi, tôi hội ý với anh Quang (tức Huỳnh Hữu Anh) và kết luận: Những người ra trước có trưởng ban trinh sát Sư đoàn và 2 chiến sỹ liên lạc. Tiếp đó là tôi, anh Quang, anh Chước. Sau khi vượt khỏi vòng vây địch, nhanh chóng điều Tiểu đoàn 1 đến giải vây cho số còn lại. Nếu có tình huống bất trắc, ngày hôm sau phải nổ súng với địch thì đồng chí Sơn sẽ chỉ huy anh em chiến đấu đến cùng. Tư tưởng xuyên suốt là giữ bí mật để không phải nổ súng với địch.
Để bảo đảm lách khỏi 3 lớp vây của địch, đồng chí Phó Sư đoàn trưởng phải trực tiếp quán triệt cho mọi người kỷ luật và kỹ thuật di chuyển:
1. Vũ khí cá nhân phải đảm bảo không để va chạm, không để bị rơi, không bị cướp nổ
2. Vừa bò vừa quan sát địch, chờ khi lựu đạn chúng ném nổ xong lập tức bò ngay, khoảng mười mét nằm lại chờ quả lựu đạn khác nổ mới bò tiếp.
3. Đến trạm cuối cùng của địch, địa hình trống, phải thực hành bò thấp, bò trườn như thằn lằn. Người ra trước phải chờ người phía sau, khi đủ mới đi. Riêng trưởng ban trinh sát, khi ra khỏi vọng gác địch, nhanh chóng tới thôn Dương Liễu đưa lệnh của Sư đoàn và Trung đoàn cho D1 giải vây cho anh em còn lại.
Quả thật là khó hình dung nổi thời khắc giữa sự sống và cái chết cách nhau chỉ một chớp mắt. Thần kinh căng như dây đàn. Tim đập nhanh như muốn văng ra khỏi lồng ngực, có những khi tưởng như tim không đập nữa. Sau này, những lúc nghĩ lại, tôi thấy rằng, sự an toàn của chúng tôi hôm đó là sự hoà nhập của 2 yếu tố tất nhiên và ngẫu nhiên. Tất nhiên là do ý chí nghị lực và thái độ chấp hành nghiêm mệnh lệnh trên, là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện để đạt tới trình độ kỹ thuật khiến kẻ thù không thể phát hiện được. Còn cái ngẫu nhiên chính là việc kẻ thù cứ lặp đi lặp lại quy luật ném lựu đạn đã tạo nên những khoảng không an toàn cho ta bò ra. Đồng thời chính tiếng nổ của lựu đạn địch đã góp phần xoá tiếng động của ta (nếu có) khi vượt qua trận địa chúng.
Khoảng 4 giờ sáng, chúng tôi ra khỏi vòng vây địch. Trưởng ban trinh sát cắt đường đi xuống Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2. Chúng tôi đi về Mỹ Thành nhưng trời sáng rõ phải tạt vào khu gò ở nam Mỹ Thọ ẩn mình trong bụi rậm bên đường, cách bốt gác của địch khoảng 400m. Lại một tình thế hiểm nghèo khác ập tới. Đến giờ đi làm, con đường trước mặt, bà con đi lại tấp nập. Qua kẽ lá chúng tôi nhìn thấy cả lính Mỹ, lính Nguỵ, tay xách súng, mắt đảo qua đảo lại như cú vọ. Hàng quán hai bên đường phát ra tiếng nhạc giật cục và tiếng hát rỉ rên, sướt mướt. Tôi vẫn còn nhớ lõm bõm: Tình chết không đợi chờ, Tình cũ ai nào ngờ, tình yêu! Lại còn có loa phát thanh phát tin của bọn tâm lý chiến: “Tin mới đây! Tin mới đây. Quân đồng minh Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hoà vừa bắt được 2 đại tá Việt Cộng”. Chúng không nói tên sợ lộ tẩy sự lừa bịp vì nhân dân trong vùng hầu hết đều biết tên cán bộ ta. Còn tôi, tôi thầm bảo: Hai đại tá còn đang ngồi trước mặt chúng mày đây.
Nắng lên. Nắng ven biển không đau nhức vì có gió nhưng vẫn là nắng nóng. Chúng tôi không còn giọt nước nào. Cơm cũng không. Cổ khô cháy, ruột cồn cào, nhưng phải ráng chịu. Chỉ lo anh Chước-chính uỷ Trung đoàn 2 rất dễ ngủ, đã ngủ là ngáy, đã ngáy là ngáy rất to. Con người ấy có bộ máy điều hoà giữa hưng phấn và ức chế thật tuyệt. Ngủ thức sòng phẳng phân minh. Nhưng lúc này và ở vị trí này, điều đó làm cho mọi người lo lắng, căng thẳng. Thỉnh thoảng tôi lại phải đập vào người để anh tỉnh dậy, dứt ngáy, khẽ nói vào tai: “Mỹ đang đi ở đường cái”, anh dửng dưng đáp: “Biết rồi, cứ kệ chúng nó”.
Ở vùng này, ngày địch đêm ta. Đến 20 giờ chúng tôi xuống đường tạt vào nhà hàng. Những ông chủ vừa mới tiếp bọn địch ban chiều, bây giờ lại niềm nở nấu mỳ Ông Phật cho chúng tôi, luôn miệng kể hết mọi thông tin mà bà con thu lượm được. Biết chúng tôi là cán bộ Giải phóng, chủ quán không chịu nhận tiền, tôi phải nằn nì mãi bác mới nhận và vẻ tự hào nói: “Bà con ở đây đa số là người đàng mình, các chú cứ yên tâm”. Ông chủ còn cho biết “ngày nào bộ đội ở thôn Dương Liễu cũng tới đây nhờ tôi mua gạo, cá, mắm”. Tôi cảm ơn và giật mình nghĩ “bộ đội để lộ nơi cư trú là điều cần phải kịp thời chấn chỉnh”.
Tạm biệt chủ quán, chúng tôi đi về hướng Đông theo bờ ruộng muối rồi quặt vào thôn Dương Liễu. Các đồng chí chỉ huy Tiểu đoàn 1 báo cáo trận đánh giải vây buổi sáng táo bạo, đưa lực lượng vào sau lưng địch bất ngờ nổ súng khiến bọn Mỹ không kịp trở tay. Chúng đưa trực thăng tới bị ta bắn trọng thương cố lết về Quận lỵ Phù Mỹ. Anh em ta rút ra an toàn, chỉ có 2 đồng chí bị thương nhẹ vào tay. Tôi thở phào nhẹ nhõm, triệu tập cán bộ Trung đoàn, Tiểu đoàn tới quán triệt yêu cầu bảo đảm bí mật để bảo toàn lực lượng cho nhiệm vụ sắp tới nặng nề và to lớn hơn.


