Bài viết

Một đời không nghỉ

Có những người đi qua chiến tranh mà không cần một viên đạn nào bắn về phía mình, nhưng chiến tranh đã bắn nát cả đời họ. Mẹ Phạm Thị Uyển là một người như thế. Mất chồng, mất con, vào tù, mẹ vẫn đi, như thể ngừng lại là có lỗi với người đã nằm xuống. Bài viết này không kể công, chỉ cúi đầu trước một đời “bình thường vĩ đại”. Để hôm nay, mỗi đứa trẻ Bến Lức được ngủ yên, xin đừng quên có một người mẹ đã thức trắng cả đời mình.

Tây Ninh30/04/2026Trần Anh Vy (THPT chuyên Trần Văn Giàu)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những con người đi qua chiến tranh không một tiếng súng, không một huân chương đeo trước ngực khi còn sống. Họ đi qua bằng đôi chân trần trên đất bùn, bằng những đêm trắng giấu cán bộ trong buồng, bằng hai lần nhận giấy báo tử mà không gục ngã. Mẹ Phạm Thị Uyển là một người như thế. Mẹ sinh ra năm 1928, tên khai sinh là Phạm Thị Xinh. Cái tên Xinh như một lời chúc của mẹ cha cho đứa con gái giữa vùng An Thạnh, Bến Lức, Long An. Nhưng thời của mẹ, đất nước không cho ai được xinh một cách yên bình. Mẹ lớn lên trong một ngôi nhà kỳ lạ. Nhà ấy có ba thế hệ đều chọn cách mạng. Nhà ấy có hai người đàn bà cùng được gọi là Mẹ Việt Nam Anh hùng, một là mẹ ruột của mẹ, bà Huỳnh Thị Tím, một là mẹ chồng, bà Nguyễn Thị Phương. Nhà ấy có hai người cha đều thành liệt sĩ. Nhà ấy có những người con trai cứ lớn lên là lần lượt khoác áo lính rồi không về. Người ta bảo Long An trung dũng kiên cường. Tôi tin câu chữ ấy được đúc từ những mái nhà như nhà mẹ. Tuổi mười tám đôi mươi, khi bạn bè còn thêu khăn, mẹ đã biết giấu tài liệu trong thúng lúa, dẫn cán bộ băng qua những cánh đồng đêm. Rồi mẹ lấy chồng. Chồng mẹ, ông Huỳnh Văn Mừng, sinh năm 1930, là Trung đội phó Huyện đội Bến Lức. Ngày 15 tháng 4 năm 1953, mẹ trở thành góa phụ ở tuổi hai mươi lăm. Tờ giấy báo tử đầu tiên về đến căn nhà nhỏ ở An Thạnh. Người ta không kể mẹ đã khóc ra sao. Chỉ biết sau đó, mẹ vẫn tiếp tục đi. Rồi mẹ có con. Con trai mẹ, anh Huỳnh Văn Hai, lớn lên lại theo bước cha. Anh là Trung sĩ, y tá của Bộ đội huyện Bến Lức. Ngày 5 tháng 9 năm 1969, tin dữ lại về. Anh hy sinh ở Ba Thu, đất Campuchia. Đến tận bây giờ, đất vẫn chưa trả anh về cho mẹ. Hai lần tiễn người thân, hai lần mẹ đứng trước bàn thờ mà không có hài cốt để thắp một nén nhang cho trọn. Nỗi đau ấy không có ngôn từ nào chạm tới được. Vậy mà mẹ không cho phép mình dừng lại. Từ tháng 2 năm 1954 đến tháng 11 năm 1959, dấu chân mẹ in khắp các bờ ruộng Bến Lức. Mẹ làm giao liên cho Huyện ủy. Công văn, chỉ thị, những mệnh lệnh sống còn của cả một phong trào nằm trong tay người đàn bà nhỏ thó ấy. Từ tháng 12 năm 1959 đến tháng 9 năm 1966, mẹ nhận nhiệm vụ binh vận. Phải vào tận hang cọp mới biết gan người. Mẹ đi vào vùng địch, nói chuyện với những người lính bên kia chiến tuyến, gieo vào họ hạt mầm phản chiến. Việc đó không có súng, chỉ có trái tim và niềm tin. Tháng 10 năm 1966, mẹ bị bắt. Khám đường Long An những ngày cuối năm ấy giam một người đàn bà đã mất chồng, mất con. Đòn roi không khuất phục được mẹ. Từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 1 năm 1967, mẹ im lặng. Sự im lặng của mẹ giữ an toàn cho bao nhiêu cơ sở, bao nhiêu đồng chí. Ra tù, người khác có thể xin nghỉ. Mẹ lại khoác áo bà ba, đi tiếp. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước thống nhất. Với nhiều người, đó là ngày về. Với mẹ, đó là ngày nhận nhiệm vụ mới. Từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 12 năm 1977, mẹ làm Trưởng ban Thông tin của HĐND xã An Thạnh. Hòa bình cũng cần người nhóm lửa. Mẹ lại đi tuyên truyền, vận động, hàn gắn những vết thương chiến tranh trên chính quê hương mình. Phải đến ngày 22 tháng 10 năm 2015, Nhà nước mới truy tặng mẹ danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng. Hai chữ truy tặng đôi khi nghẹn lại nơi cổ. Nhưng tôi tin mẹ không đợi. Với mẹ, ngày vui nhất là ngày cả nước không còn tiếng súng. Năm 2017, trong lễ kỷ niệm 50 năm Long An được trao tặng tám chữ vàng, lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã đến tận nơi tặng hoa cho mẹ. Bó hoa ấy muộn, nhưng đủ để một đời người ấm lòng. Viết về mẹ, tôi cứ nghĩ mãi đến hai chữ hậu phương. Sách vở vẫn dạy hậu phương là nơi tiếp sức cho tiền tuyến. Nhưng nhà mẹ thì sao. Chồng ở tiền tuyến và đã hy sinh. Con ở tiền tuyến và đã hy sinh. Vậy ai là hậu phương của mẹ. Không có ai cả. Mẹ tự mình làm hậu phương cho chính mình, rồi lại làm hậu phương cho cách mạng. Có những người đàn bà phải gánh cả một đất nước trên vai như thế. Người ta hay gọi những người như mẹ là anh hùng. Nhưng tôi muốn gọi mẹ là người bình thường vĩ đại. Bởi mẹ không làm gì phi thường ngoài việc sống đúng với lương tâm mình suốt 25 năm chiến tranh và cả sau đó. Mẹ không rao giảng đạo lý. Mẹ chỉ đi, chỉ làm, chỉ chịu đựng và chỉ bước tiếp. Hôm nay, An Thạnh đã khác. Những cánh đồng mẹ từng băng qua giờ có đường bê tông. Khám đường Long An năm xưa giờ là di tích. Đứa trẻ sinh ra ở Bến Lức có thể không biết tên mẹ. Nhưng mỗi khi chúng được cắp sách đến trường mà không sợ máy bay, mỗi khi chúng được ngủ một đêm không tiếng đại bác, thì đó là nhờ có mẹ, có chồng mẹ, có con mẹ, và có hàng vạn người như gia đình mẹ. Tôi gấp lại trang tư liệu về mẹ. Thứ còn lại không phải là những con số 1953, 1969, 1966. Thứ còn lại là một câu hỏi gửi cho chính mình: Nếu đặt mình vào vị trí của mẹ ngày ấy, liệu ta có đi nổi không. Và nếu hôm nay, ta không sống cho tử tế, cho có trách nhiệm, thì ta trả lời sao với những nấm mồ chưa tìm thấy hài cốt. Mẹ Phạm Thị Uyển đã hóa thành đất, thành sông, thành dáng hình của Long An. Lịch sử có thể quên nhiều tên người, nhưng lịch sử không bao giờ quên những người đã lặng lẽ viết nên nó bằng máu, nước mắt và một đời không nghỉ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Một đời không nghỉ | Câu chuyện thời hoa lửa