Một mắt nhìn đời, trọn lòng vì Tổ quốc
Sinh ra và lớn lên trên vùng đất Củ Chi giàu truyền thống cách mạng, ông Võ Văn Em sớm chứng kiến cảnh chiến tranh tàn phá quê hương. Dù bị mất một mắt từ nhỏ, ông vẫn tham gia cách mạng, trở thành chiến sĩ biệt động kiên cường. Bị bắt, kết án tử hình và giam giữ suốt 8 năm 4 tháng 24 ngày từ Nhà lao Chí Hòa đến Nhà tù Côn Đảo, ông vẫn giữ trọn khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Sau ngày đất nước thống nhất, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Mỗi khi nhắc đến chiến tranh, ông Võ Văn Em không kể nhiều về những chiến công của mình. Điều ông nhớ nhất là hình ảnh quê hương Củ Chi chìm trong khói lửa, nơi tuổi thơ ông gắn liền với tiếng bom, tiếng súng và những mái nhà bị đốt cháy.
Ông bị hỏng một mắt từ nhỏ. Nhiều người nghĩ khuyết tật ấy sẽ khiến ông không thể làm được việc lớn. Nhưng chính ông từng chia sẻ rằng điều quan trọng không phải là có đủ hai mắt, mà là có đủ niềm tin để nhìn thấy con đường mình phải đi. Từ khi còn rất trẻ, ông đã tham gia hoạt động cách mạng, làm liên lạc, đưa thư, dẫn đường và sau đó trực tiếp chiến đấu trong lực lượng biệt động.
Trong một lần làm nhiệm vụ, ông bị địch bắt. Sau nhiều cuộc thẩm vấn và tra tấn, ông vẫn không khai báo về tổ chức hay đồng đội. Chính quyền Sài Gòn tuyên án tử hình đối với ông và đưa ông qua nhiều nhà giam, từ Chí Hòa đến Côn Đảo – nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian".
Suốt 8 năm 4 tháng 24 ngày sống trong lao tù, ông phải chịu nhiều hình thức tra tấn khắc nghiệt. Nhưng dù bị cùm chân, bỏ đói hay đánh đập, ông và những người đồng chí vẫn bí mật động viên nhau giữ vững niềm tin. Họ tin rằng chỉ cần còn sống, còn giữ được ý chí thì cách mạng sẽ có ngày thắng lợi.
Đối với ông Võ Văn Em, nhà tù không khuất phục được lòng yêu nước. Trái lại, nơi ấy càng rèn giũa ý chí của người chiến sĩ. Ông luôn tâm niệm rằng nếu mình gục ngã thì sẽ phụ lòng những đồng đội đã hy sinh ngoài chiến trường và những người đang tiếp tục chiến đấu vì độc lập của dân tộc.
Ngày đất nước thống nhất, ông được trở về trong niềm vui vỡ òa. Điều khiến ông hạnh phúc nhất không phải là danh hiệu hay sự ghi nhận sau này, mà là được chứng kiến lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên bầu trời hòa bình – điều mà biết bao đồng đội của ông đã không còn cơ hội nhìn thấy.
Nhiều năm sau chiến tranh, ông vẫn dành thời gian gặp gỡ học sinh, sinh viên để kể lại những ký ức của một thời hoa lửa. Ông luôn nhắn nhủ rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu, nước mắt và tuổi thanh xuân của biết bao người. Vì vậy, thế hệ trẻ cần biết trân trọng lịch sử, sống có trách nhiệm và góp sức xây dựng đất nước.


